Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Bệnh vẩy nến là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan

Tiếng Anhpsoriasis

Tên gọi khácvảy nếnbệnh vảy nếnviêm da vảy nến

Bệnh vẩy nến là một bệnh viêm da mạn tính qua trung gian miễn dịch, đặc trưng bởi sự tăng sinh bất thường của tế bào sừng thượng bì tạo nên các mảng ban đỏ có vảy trắng bạc.

366 lượt xem Cập nhật 28/8/2026

Bệnh vẩy nến (psoriasis) là một bệnh lý viêm da mạn tính qua trung gian miễn dịch thường gặp, có xu hướng tái phát dai dẳng. Bệnh biểu hiện lâm sàng đặc trưng bởi các mảng ban đỏ giới hạn rõ, bề mặt phủ lớp vảy da dày màu trắng ánh bạc, vị trí ưu thế ở vùng tì đè như khuỷu tay, đầu gối, da đầu và vùng lưng dưới.

Cơ chế bệnh sinh miễn dịch học

Theo các nghiên cứu chuyên sâu của Nestle và cộng sự (2009) cùng Griffiths và Barker (2007), bệnh sinh của vẩy nến bắt nguồn từ sự tương tác phức tạp giữa yếu tố cơ địa di truyền (các alen nhạy cảm HLA-Cw6) và các tác nhân môi trường (nhiễm trùng liên cầu, căng thẳng tâm lý, chấn thương da Koebner):

  • Kích hoạt tế bào tua gai (Dendritic Cells): Các tế bào tua gai tại chỗ tiết ra interleukin-12 (IL-12) và interleukin-23 (IL-23).
  • Trục miễn dịch Th17 / IL-23: IL-23 kích thích sự biệt hóa và mở rộng của các tế bào lympho Th17, dẫn đến giải phóng ồ ạt các cytokine tiền viêm như IL-17A, IL-17F, IL-22 và TNF-alpha.
  • Tăng sinh tế bào sừng (Keratinocyte Hyperproliferation): Dưới tác động của IL-17 và IL-22, chu kỳ sống của tế bào sừng thượng bì bị rút ngắn từ mức bình thường 28 ngày xuống chỉ còn 3 đến 5 ngày, gây ra hiện tượng sừng hóa non (parakeratosis) và hình thành lớp vảy da dày.

Các thể lâm sàng của bệnh vẩy nến

Theo phân loại da liễu học hiện đại của Boehncke và Schön (2015):

Thể lâm sàng Tần suất xuất hiện Đặc điểm tổn thương thực thể
Vẩy nến thể mảng (Plaque Psoriasis) Chiếm khoảng 80% đến 90% số ca Mảng ban đỏ gồ cao, phủ vảy trắng bạc dày, đối xứng hai bên cơ thể
Vẩy nến thể giọt (Guttate Psoriasis) Thường gặp ở thanh thiếu niên Tổn thương dạng sẩn nhỏ hình giọt nước rải rác toàn thân sau viêm họng liên cầu
Vẩy nến thể đảo ngược (Inverse Psoriasis) Vùng nếp kẽ Mảng đỏ bóng, ẩm ướt, không có vảy ở nách, bẹn, nếp dưới vú
Vẩy nến thể mủ (Pustular Psoriasis) Thể nặng, hiếm gặp Các mụn mủ vô trùng nông xuất hiện cục bộ (lòng bàn tay, chân) hoặc toàn thân
Vẩy nến đỏ da toàn thân (Erythrodermic) Cấp cứu da liễu Đỏ da và tróc vảy trên 90% diện tích cơ thể, rối loạn điều hòa thân nhiệt

Bệnh học hệ thống và các biến chứng đồng mắc

Bệnh vẩy nến ngày nay được công nhận là một bệnh viêm hệ thống (systemic inflammatory disease) chứ không đơn thuần chỉ khu trú ở da:

  • Viêm khớp vẩy nến (Psoriatic Arthritis): Xuất hiện ở khoảng 30% người bệnh, gây viêm khớp phá hủy cấu trúc sụn, ngón tay hình khúc dồi (dactylitis) và viêm điểm bám gân (enthesitis).
  • Hội chứng chuyển hóa và Tim mạch: Quá trình viêm mạn tính màng nội mạch làm tăng đáng kể nguy cơ xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, đái tháo đường týp 2 và béo phì.
  • Tác động tâm lý - xã hội: Người bệnh thường xuyên phải đối mặt với cảm giác tự ti, kỳ thị xã hội và tăng tỷ lệ lo âu, trầm cảm.

Các chiến lược điều trị hiện đại

  • Liệu pháp tại chỗ (cho thể nhẹ): Sử dụng thuốc mỡ corticosteroid hiệu lực cao, dẫn xuất vitamin D (calcipotriol), retinoid tại chỗ hoặc chất ức chế calcineurin (tacrolimus).
  • Quang trị liệu (Phototherapy): Chiếu tia cực tím dải hẹp UVB (Narrowband UVB) hoặc PUVA hỗ trợ điều hòa miễn dịch da.
  • Thuốc toàn thân kinh điển: Methotrexate, Cyclosporine, Acitretin dành cho các trường hợp bệnh từ trung bình đến nặng.
  • Liệu pháp sinh học nhắm trúng đích (Biologics): Bao gồm thuốc ức chế TNF-alpha (Adalimumab, Infliximab), ức chế IL-12/23 (Ustekinumab), ức chế IL-23 (Guselkumab, Risankizumab) và ức chế IL-17 (Secukinumab, Ixekizumab) mang lại tỷ lệ sạch tổn thương da lên đến 90% đến 100%.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh chính của bệnh vẩy nến là gì?

Vẩy nến là bệnh lý viêm hệ thống mạn tính do rối loạn điều hòa trục miễn dịch tế bào lympho T (chủ yếu là trục IL-23/IL-17/TNF-alpha), kích thích tế bào sừng (keratinocyte) tăng sinh và biệt hóa quá mức.

Các thể lâm sàng phổ biến nhất của bệnh vẩy nến bao gồm những gì?

Các thể lâm sàng bao gồm: Vẩy nến thể mảng (chiếm khoảng 80-90% ca bệnh), vẩy nến thể giọt, vẩy nến thể đảo ngược (nếp gấp), vẩy nến thể mủ và vẩy nến đỏ da toàn thân.

Bệnh vẩy nến có những bệnh lý đồng mắc (comorbidities) nguy hiểm nào?

Bệnh nhân vẩy nến có nguy cơ cao đồng mắc viêm khớp vẩy nến (chiếm khoảng 30% bệnh nhân), hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường týp 2, béo phì, bệnh tim mạch và trầm cảm.

Các liệu pháp sinh học (biologics) hiện đại điều trị bệnh vẩy nến hoạt động ra sao?

Thuốc sinh học nhắm trúng đích các cytokine gây viêm then chốt như kháng thể ức chế TNF-alpha, ức chế IL-12/23, ức chế IL-23 và ức chế IL-17, giúp làm sạch tổn thương da nhanh chóng và duy trì hiệu quả lâu dài.

Các nghiên cứu khoa học về “bệnh vẩy nến”

Công bố nổi bật trên thế giới và tại Việt Nam, kèm tóm tắt theo hướng chủ đề.

Mới nhất

  • Xây dựng và thử nghiệm bộ cơ sở dữ liệu hình ảnh vảy nến nhằm huấn luyện AI chẩn đoán bệnh vảy nến

    Nguyễn Trần Hải Ánh và cộng sự2026Tạp chí Nghiên cứu Y học

    AI tóm tắt

    Hệ thống cơ sở dữ liệu hình ảnh lâm sàng được xây dựng nhằm huấn luyện các thuật toán trí tuệ nhân tạo nhận diện tổn thương da liễu. Tập dữ liệu chuẩn hóa từ 1628 bệnh nhân bệnh vẩy nến gồm hơn 23 nghìn ảnh bao phủ các thể thông thường, thể mủ và đỏ da. Mô hình thị giác máy tính đạt độ nhạy 93,1% và độ chính xác chung 90,5% trong phân loại thể bệnh. Bộ dữ liệu là công cụ hỗ trợ chẩn đoán giá trị thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong y khoa.

  • ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN GIẤC NGỦ Ở BỆNH NHÂN VẢY NẾN THỂ MẢNG ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC SINH HỌC TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

    Trần Thái Sơn và cộng sự2026Tạp chí Y học Cộng đồng

    AI tóm tắt

    Tình trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh dùng thuốc sinh học được đánh giá qua chỉ số PSQI tại Bệnh viện Bạch Mai. Khảo sát trên 62 bệnh nhân bệnh vẩy nến thể mảng ghi nhận 43,5% người bệnh gặp khó khăn trong giấc ngủ dù tổn thương da rất thấp. Mức độ ngứa trên thang điểm PNRS tương quan thuận rõ rệt với mức độ mất ngủ. Ngứa dai dẳng là yếu tố quyết định chất lượng giấc ngủ đòi hỏi can thiệp kiểm soát tích cực.

  • ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA BỆNH NHÂN SỬ DỤNG EPSORA TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VẢY NẾN TẠI PHÒNG KHÁM DA LIỄU FOB NĂM 2024

    Huỳnh Văn Bá và cộng sự2026Tạp chí Y học Cộng đồng

    AI tóm tắt

    Chế phẩm bôi tại chỗ E-psora được theo dõi hiệu quả lâm sàng và mức độ hài lòng ở bệnh nhân thể mảng mức độ nhẹ và trung bình. Nghiên cứu mô tả trên 58 người bệnh bệnh vẩy nến ghi nhận điểm PASI trung bình giảm từ 6,97 xuống còn 2,13 sau đợt điều trị. Tỷ lệ bệnh nhân đạt mốc đáp ứng PASI-50 lên tới 76,9% đi kèm cải thiện đáng kể điểm chất lượng cuộc sống. Thuốc bôi thể hiện tính an toàn và hiệu lực tốt giúp kiểm soát tổn thương mảng sừng ngoại trú.

  • 19. Mối tương quan giữa thang điểm phối hợp PGA và BSA với chỉ số PASI trong đánh giá mức độ bệnh của vảy nến thể mảng

    Lưu Huệ Phương và cộng sự2025Tạp chí Nghiên cứu Y học

    AI tóm tắt

    Thang điểm phối hợp đánh giá tổng thể và diện tích tổn thương PGA nhân BSA được đối chiếu tương quan với chỉ số chuẩn PASI. Nghiên cứu cắt ngang trên 402 bệnh nhân bệnh vẩy nến thể mảng ghi nhận tương quan tuyến tính rất mạnh giữa hai phương pháp đo lường. Ở nhóm tổn thương rộng trên 10% diện tích cơ thể, hệ số tương quan đạt 0,881 với độ tin cậy thống kê cao. Chỉ số kết hợp mang lại công cụ đánh giá nhanh gọn thay thế hiệu quả cho cách tính truyền thống phức tạp.

  • PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC XÉT NGHIỆM LÂM SÀNG TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ SỬ DỤNG THUỐC SINH HỌC MỚI ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN THÔNG THƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

    Văn Rư Nguyễn2024Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và phát triển Trường Đại học Thành Đô

    AI tóm tắt

    Các chỉ số xét nghiệm huyết học và sinh hóa được phân tích nhằm xây dựng quy trình chuẩn trước khi chỉ định thuốc sinh học thế hệ mới. Khảo sát hồi cứu lâm sàng ở bệnh nhân bệnh vẩy nến thông thường ghi nhận xét nghiệm men gan, chức năng thận và sàng lọc lao đóng vai trò cốt lõi. Bệnh nhân có tăng men gan được khuyến cáo ưu tiên dùng secukinumab thay vì adalimumab. Đánh giá cận lâm sàng là tiêu chuẩn bắt buộc nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối trước can thiệp miễn dịch.

Trích dẫn nhiều nhất

  • Các tế bào tiền nguyên bào plasmacytoid khởi phát bệnh vẩy nến thông qua việc sản xuất interferon-α

    Dịch bởi AIPlasmacytoid predendritic cells initiate psoriasis through interferon-α production

    Frank O. Nestle và cộng sự2005Journal of Experimental Medicine1.046 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Tế bào tiền nguyên bào plasmacytoid thâm nhiễm mô da được khảo sát vai trò khởi phát phản ứng tự miễn qua cytokine interferon-α. Thực nghiệm trên mô hình cấy ghép da người cho thấy việc ức chế sản xuất cytokine giúp ngăn chặn hoàn toàn bệnh tiến triển phụ thuộc lympho T. Phục hồi nồng độ chất trung gian kích thích lại các tổn thương viêm sừng đặc trưng. Phát hiện làm sáng tỏ cơ chế miễn dịch bẩm sinh then chốt thúc đẩy bệnh vẩy nến.

  • Sinh học của yếu tố hoại tử khối u‐α – Những hệ quả đối với bệnh vảy nến

    Dịch bởi AIBiology of tumor necrosis factor‐α– implications for psoriasis

    Arndt Schottelius và cộng sự2004Experimental Dermatology187 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Cytokine tiền viêm TNF-α được phân tích vai trò trung tâm trong sinh bệnh học và phát triển thuốc điều trị sinh học. Tổng quan tài liệu cơ chế phân tử tổng hợp các thụ thể hòa tan và kháng thể đơn dòng kháng thể trimer hòa tan. Các dữ liệu lâm sàng ghi nhận can thiệp ức chế tín hiệu cytokine mang lại đáp ứng sạch tổn thương da ngoạn mục. Hiểu biết về con đường truyền tin là cơ sở phát triển thuốc nhắm trúng đối với bệnh vẩy nến mạn tính.

  • Hydrogel composite đa chức năng như một chất đồng điều hòa nội sinh và ngoại sinh nhằm nâng cao hiệu quả điều trị bệnh vảy nến

    Dịch bởi AIA multifunctional composite hydrogel as an intrinsic and extrinsic coregulator for enhanced therapeutic efficacy for psoriasis

    Jiangmei Xu và cộng sựJournal of Nanobiotechnology17 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Hệ gel nano dẫn truyền thuốc methotrexate kết hợp hạt nano lai được thiết kế nhằm đồng thời dập tắt các chu trình viêm qua da. Thử nghiệm in vivo trên mô hình chuột gây bệnh bằng imiquimod ghi nhận phức hợp hạt nano giúp bất hoạt tiểu phần p65 và điều hòa giảm trục tín hiệu STAT3. Chế phẩm bôi tại chỗ đạt hiệu quả kiểm soát viêm vượt trội và phân phối thuốc sâu qua biểu bì. Hệ gel mang lại nền tảng điều trị đa đích tiềm năng kiểm soát tổn thương bệnh vẩy nến.

  • MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ AXIT URIC HUYẾT THANH VỚI CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG TRÊN BỆNH NHÂN VẢY NẾN

    Nguyễn Tuấn Dũng và cộng sự2024Tạp chí Y học Việt Nam0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Nồng độ axit uric huyết thanh được khảo sát mối liên quan với mức độ nặng lâm sàng tại Bệnh viện Da liễu Trung ương. Khảo sát mô tả trên 240 bệnh nhân bệnh vẩy nến ghi nhận 28,3% trường hợp có hiện tượng tăng axit uric trong máu. Chỉ số khối cơ thể BMI và diện tích tổn thương PASI được xác định là hai yếu tố nguy cơ độc lập dẫn đến tăng axit uric. Kiểm soát chuyển hóa purin là yêu cầu theo dõi cần thiết giúp phòng ngừa biến chứng khớp và tim mạch kèm theo.

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN VẢY NẾN MẢNG TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ VIỆN NGHIÊN CỨU DA THẨM MỸ QUỐC TẾ FOB NĂM 2022-2023

    Huỳnh Văn Bá và cộng sự2023Tạp chí Y Dược học Cần Thơ0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Mức độ ngứa và chất lượng cuộc sống của người bệnh được đánh giá thông qua thang đo PASI và bảng hỏi DLQI chuẩn hóa. Khảo sát mô tả trên 50 bệnh nhân bệnh vẩy nến thể mảng ghi nhận triệu chứng ngứa chiếm ưu thế ở 92% đối tượng nghiên cứu. Tổn thương tập trung nhiều nhất ở vùng da đầu với 64% và phân bố đối xứng cơ thể chiếm 86%. Ảnh hưởng sức khỏe tâm lý là gánh nặng đời sống đáng kể cần được phối hợp chăm sóc toàn diện.

Nổi bật tại Việt Nam

  • Yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân vảy nến thông thường đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh

    Nguyễn Trọng Hào và cộng sự2020TẠP CHÍ Y DƯỢC LÂM SÀNG 1083 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố khởi phát thương tổn được khảo sát tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 bệnh nhân bệnh vẩy nến thể thông thường ghi nhận lứa tuổi lao động 40 đến 59 chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 45,34%. Tổn thương da phân bố đối xứng chiếm 90% và tổn thương móng gặp ở 89,33% trường hợp. Yếu tố tâm lý stress và rượu bia đóng vai trò tác nhân kích hoạt chính làm gia tăng mức độ nặng của bệnh.

  • Xác định nồng độ kẽm, đồng, canxi trong huyết thanh và mối liên quan với lâm sàng ở bệnh nhân vảy nến mụn mủ toàn thân

    Lê Huyền My và cộng sự2021TẠP CHÍ Y DƯỢC LÂM SÀNG 1081 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Vi chất kẽm, đồng và canxi huyết thanh được định lượng nhằm đánh giá rối loạn khoáng chất ở thể bệnh mụn mủ nặng. Nghiên cứu có nhóm chứng trên 49 bệnh nhân bệnh vẩy nến mụn mủ toàn thân ghi nhận nồng độ kẽm giảm rõ rệt còn 0,85 mg/l so với người khỏe mạnh. Ngược lại, nồng độ đồng huyết thanh tăng có ý nghĩa thống kê đạt 1,32 mg/l. Biến đổi vi lượng là chỉ dấu chuyển hóa đáng lưu ý dù không thấy tương quan trực tiếp với thời gian mắc bệnh.

  • Yếu tố nguy cơ tim mạch trên bệnh nhân vảy nến

    Nguyễn Trọng Hào và cộng sự2018TẠP CHÍ Y DƯỢC LÂM SÀNG 1081 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Các yếu tố nguy cơ tim mạch đồng mắc được khảo sát ở người bệnh tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Khảo sát trên 100 người bệnh bệnh vẩy nến thể mảng ghi nhận tỷ lệ rối loạn lipid máu là 70% và tăng huyết áp là 41%. Nồng độ homocysteine huyết tương tăng cao tương quan thuận với độ nặng của bệnh. Tầm soát tim mạch toàn diện là biện pháp quản lý cần thiết nhằm giảm thiểu biến cố mạch vành.

  • Cơ sở di truyền của bệnh vảy nến

    Nguyễn Thị Kim Liên và cộng sự2016Vietnam Journal of Biotechnology1 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Cơ sở di truyền học quần thể được tổng kết nhằm làm sáng tỏ tính cảm nhiễm bệnh lý biểu bì. Tổng quan tài liệu di truyền phân tích vai trò của locus PSORS1 trên nhiễm sắc thể số 6 chứa gen HLA-C liên quan đến khởi phát bệnh. Hơn 13 locus gen khác nhau được xác định có tương tác với yếu tố tuổi và chủng tộc. Bản đồ gen cung cấp tiền đề chẩn đoán phân tử hỗ trợ dự phòng bệnh vẩy nến.

  • ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VẢY NẾN BẰNG SECUKINUMAB TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2024

    Nguyễn Thị Lệ Quyên và cộng sự2025Tạp chí Y Dược học Cần Thơ0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Thuốc sinh học kháng interleukin-17A secukinumab được theo dõi hiệu quả làm sạch tổn thương da tại Cần Thơ. Nghiên cứu mô tả trên 30 người bệnh trưởng thành mắc bệnh vẩy nến thể thông thường vừa đến nặng ghi nhận tỷ lệ sạch vảy PASI-75 đạt 100% sau 12 tuần. Chất lượng cuộc sống của đa số bệnh nhân được cải thiện rõ rệt với rất ít tác dụng phụ ghi nhận. Kháng thể đơn dòng thể hiện hiệu lực kiểm soát vượt trội đối với các trường hợp bệnh dai dẳng kháng trị.

Mới nhất tại Việt Nam

  • SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN VẢY NẾN TRƯỚC VÀ SAU TƯ VẤN TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

    Ngô Thị Lương và cộng sự2026Tạp chí Da liễu học Việt Nam

    AI tóm tắt

    Mức độ tuân thủ dùng thuốc của người bệnh được đánh giá bằng thang đo chuẩn Morisky 8 trước và sau can thiệp tư vấn chuyên môn. Nghiên cứu can thiệp trên 160 bệnh nhân bệnh vẩy nến tại Bệnh viện Da liễu Trung ương ghi nhận 69,4% bệnh nhân cải thiện tuân thủ điều trị. Tỷ lệ người bệnh có mức tuân thủ cao tăng vọt từ 1,9% lên 32,5% sau quá trình truyền thông trực tiếp. Tư vấn dùng thuốc là biện pháp then chốt giúp tối ưu hóa kết quả kiểm soát triệu chứng lâu dài.

  • ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ RỐI LOẠN TRẦM CẢM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN VẢY NẾN TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU ĐÀ NẴNG

    Trần Vũ Long và cộng sự2025Tạp chí Da liễu học Việt Nam

    AI tóm tắt

    Tỷ lệ rối loạn trầm cảm và biểu hiện tâm lý tiêu cực được định lượng tại Bệnh viện Da liễu Đà Nẵng. Khảo sát cắt ngang trên 92 bệnh nhân bệnh vẩy nến ghi nhận 25% người bệnh có biểu hiện rối loạn trầm cảm từ nhẹ đến nặng. Nữ giới có mức độ trầm cảm nặng hơn nam giới dù diện tích tổn thương PASI đa số ở mức nhẹ. Sàng lọc tâm thần là khâu chăm sóc thiết yếu giúp phát hiện sớm khủng hoảng tâm lý.

  • 36. Đặc điểm tổn thương móng ở bệnh viêm khớp vảy nến

    Nguyễn Thị Lệ Thuỷ và cộng sự2025Tạp chí Nghiên cứu Y học

    AI tóm tắt

    Hình thái tổn thương móng và mức độ hoạt động của khớp được khảo sát đối chiếu giữa hai nhóm bệnh lý da và khớp. Khảo sát trên 63 người bệnh bệnh vẩy nến thông thường và 61 ca viêm khớp vẩy nến ghi nhận tổn thương móng xuất hiện tương ứng ở 72,6% và 86,9%. Tổn thương đốm trắng và xuất huyết dưới móng gặp nhiều hơn rõ rệt ở người bệnh viêm khớp. Biến đổi móng là dấu hiệu lâm sàng gợi ý phản ánh mức độ hoạt động và nguy cơ tổn thương khớp.

  • MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TRẦM CẢM Ở BỆNH NHÂN VẢY NẾN THÔNG THƯỜNG

    Linh Trịnh Thị và cộng sự2025Tạp chí Da liễu học Việt Nam

    AI tóm tắt

    Dấu hiệu rối loạn trầm cảm được sàng lọc qua thang đo hai bước PHQ-2 và PHQ-9 tại Bệnh viện Da liễu Trung ương. Nghiên cứu cắt ngang trên 294 bệnh nhân bệnh vẩy nến thể thông thường điều trị ban ngày ghi nhận tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm là 14%. Phân tích thống kê chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa mức độ nặng của tổn thương vẩy nến với nguy cơ trầm cảm. Hỗ trợ tâm lý đóng vai trò hợp phần trị liệu quan trọng giúp nâng cao hiệu quả phục hồi toàn diện.

  • HIỆU QUẢ BĂNG BỊT BẰNG MÀNG BỌC NYLON LÊN THUỐC BÔI TẠI CHỖ TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VẢY NẾN THỂ MẢNG

    Hạnh Hoàng Hồng và cộng sự2024Tạp chí Da liễu học Việt Nam

    AI tóm tắt

    Phương pháp băng bịt bằng màng bọc nylon kết hợp thuốc bôi tại chỗ được đánh giá hiệu quả giảm sừng trên chi thể. Thử nghiệm đối chứng tự thân trên 60 người bệnh bệnh vẩy nến mảng ghi nhận điểm PASI bên chi được băng bịt giảm mạnh hơn rõ rệt sau 1 tuần. Khả năng hấp thu dược chất được tăng cường giúp đẩy nhanh tốc độ lành tổn thương sừng. Kỹ thuật băng kín là biện pháp bổ trợ hữu hiệu tối ưu hóa tác dụng của phác đồ bôi.

Tài liệu tham khảo

  1. Nestle, F. O., Kaplan, D. H., & Barker, J. (2009). Psoriasis. New England Journal of Medicine, 361(5), 496-509. DOI: 10.1056/nejmra0804595
  2. Boehncke, W. H., & Schön, M. P. (2015). Psoriasis. The Lancet, 386(9997), 983-994. DOI: 10.1016/s0140-6736(14)61909-7
  3. Griffiths, C. E., & Barker, J. N. (2007). Pathogenesis and clinical features of psoriasis. The Lancet, 370(9583), 263-271. DOI: 10.1016/s0140-6736(07)61128-3