Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Bệnh động mạch vành là gì? Các công bố khoa học về Bệnh động mạch vành

Tiếng AnhCoronary artery disease (CAD)

Bệnh động mạch vành là tình trạng hẹp hoặc tắc nghẽn các động mạch vành nuôi dưỡng tim, chủ yếu do mảng xơ vữa gây thiếu máu cục bộ cơ tim, biểu hiện từ hội chứng mạch vành mạn đến hội chứng mạch vành cấp.

523 lượt xem Cập nhật 7/9/2026

Bệnh động mạch vành (Coronary artery disease (CAD)) là bệnh lý tim mạch mạn tính tiến triển đặc trưng bởi sự tích tụ mảng xơ vữa trong lòng các nhánh động mạch vành dẫn đến giảm sút lưu lượng máu và oxy cung cấp cho cơ tim. Bệnh động mạch vành là một loại bệnh lý tim mạch, xuất phát từ sự tắc nghẽn hoặc hẹp các động mạch phổi (các động mạch cung cấp máu cho cơ tim) do tích tụ chất béo và các chất xơ khác trên thành trong của các động mạch này. Bệnh động mạch vành gây ra gián đoạn trong việc cung cấp máu giàu oxi và chất dinh dưỡng đến cơ tim, dẫn đến các triệu chứng như nhức đau ngực, khó thở, mệt mỏi và nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Bệnh động mạch vành là một bệnh lý tim mạch thường gặp và một trong những nguyên nhân chính gây tử vong trên toàn cầu. Bệnh này phát triển do tiến trình gắn kết mạch của động mạch, khi các chất béo tích tụ và hình thành các bản đồ mỡ trên thành trong của các động mạch vành.

Các bản đồ mỡ này dần dần tạo thành các mảng xơ, cứng, và hẹp lumen (không gian bên trong động mạch). Quá trình này được gọi là xơ hóa mạch vành. Khi lượng máu cung cấp đến cơ tim bị hạn chế, cơ tim không đủ oxy để hoạt động, gây ra những triệu chứng và biến chứng của bệnh.

Các triệu chứng chính của bệnh động mạch vành bao gồm:

1. Nhức đau ngực (angina): Đây là triệu chứng phổ biến nhất của bệnh động mạch vành. Nhức đau thường xảy ra trong vùng ngực phía trên hoặc sau lồng ngực và có thể lan ra cổ, vai, tay hoặc hàm. Đau thường xảy ra khi cơ tim cần nhiều oxy hơn mà động mạch không thể cung cấp đủ do hẹp lumen.

2. Khó thở: Hẹp động mạch vành cũng có thể làm giảm dòng máu cung cấp cho phổi, gây khó thở và ngạt thở.

3. Mệt mỏi: Do lượng oxy và chất dinh dưỡng không đủ cung cấp cho cơ tim, người bệnh có thể cảm thấy mệt mỏi và yếu đuối khi thực hiện các hoạt động vận động.

Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh động mạch vành có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim, đột quỵ và thậm chí tử vong.

Để chẩn đoán bệnh động mạch vành, các phương pháp xét nghiệm như tổng hợp hình ảnh (như siêu âm tim, cầu xanh hoặc CT scan) và xét nghiệm chức năng tim (như thử nghiệm căng thẳng) thường được sử dụng. Đối với điều trị, phương pháp non-nhức như thay đổi lối sống (tập thể dục, kiểm soát cân nặng, hạn chế tiêu thụ chất béo) và dùng thuốc (như aspirin, chất kháng tiểu cầu, statins) có thể được sử dụng. Trường hợp nghiêm trọng hơn, phẫu thuật thông qua stent hay bay mạch cũng có thể được thực hiện để mở rộng động mạch vành hẹp.

Câu hỏi thường gặp

Các yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển có thể thay đổi được của bệnh động mạch vành gồm những gì?

Bao gồm hút thuốc lá, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu (tăng LDL-cholesterol), đái tháo đường, béo phì, lối sống tĩnh tại ít vận động và căng thẳng tâm lý kéo dài.

Phân biệt giữa hội chứng vành mạn (CCS) và hội chứng vành cấp (ACS) trên lâm sàng như thế nào?

Hội chứng vành mạn biểu hiện bằng cơn đau thắt ngực ổn định xuất hiện khi gắng sức và giảm khi nghỉ ngơi hoặc ngậm nitroglycerin; hội chứng vành cấp xuất hiện đột ngột cả khi nghỉ ngơi do nứt vỡ mảng xơ vữa hình thành huyết khối.

Những phương pháp điều trị tái tưới máu mạch vành chính hiện nay là gì?

Bao gồm can thiệp mạch vành qua da (PCI) đặt stent phủ thuốc và phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành (CABG) bằng động mạch vú trong hoặc tĩnh mạch hiển.

Các nghiên cứu khoa học về “Bệnh động mạch vành”

Công bố nổi bật trên thế giới và tại Việt Nam, kèm tóm tắt theo hướng chủ đề.

Mới nhất

Trích dẫn nhiều nhất

  • Mối liên quan giữa tình trạng thiếu adiponectin với bệnh động mạch vành ở nam giới

    Dịch bởi AIAssociation of Hypoadiponectinemia With Coronary Artery Disease in Men

    Masahiro Kumada và cộng sự2003Arteriosclerosis, Thrombosis, and Vascular Biology1.419 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Khảo sát bệnh chứng trên 225 nam chụp mạch và 225 đối chứng nhằm đánh giá adiponectin ở người mắc bệnh động mạch vành. Nồng độ adiponectin ở nhóm bệnh giảm rõ rệt, trong đó mức dưới 4,0 μg/mL làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh với tỷ số chênh 2,051. Kết quả gợi ý hạ adiponectin máu là yếu tố nguy cơ độc lập gây tổn thương động mạch vành, dù còn hạn chế do chỉ nghiên cứu ở nam giới.

  • Tăng Lipid Máu và Bệnh Động Mạch vành

    Dịch bởi AIHyperlipidemia and Coronary Disease

    Lucie Lacoste và cộng sự1995444 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Thử nghiệm lâm sàng trên 32 bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành ổn định gồm 16 người tăng cholesterol dùng pravastatin 40 mg mỗi ngày và 16 đối chứng lipid bình thường. Sau 2,5 tháng, liệu pháp giúp hạ cholesterol LDL từ 4,5 xuống 2,8 mmol/L và giảm diện tích huyết khối tiểu cầu từ 4,8 xuống 2,0 μm²/mm ở tốc độ cắt cao. Dữ liệu cho thấy hạ lipid máu bằng pravastatin giúp ức chế huyết khối trên thành mạch tổn thương, qua đó góp phần ngừa biến cố cấp ở động mạch vành.

  • Hiệu quả của Propofol, Desflurane và Sevoflurane đối với sự phục hồi chức năng cơ tim sau phẫu thuật động mạch vành ở bệnh nhân người lớn tuổi có nguy cơ cao

    Dịch bởi AIEffects of Propofol, Desflurane, and Sevoflurane on Recovery of Myocardial Function after Coronary Surgery in Elderly High-risk Patients

    Stefan De Hert và cộng sự2003Anesthesiology244 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Thử nghiệm ngẫu nhiên trên 45 bệnh nhân cao tuổi có tổn thương ba thân động mạch vành và suy giảm phân suất tống máu được phẫu thuật bắc cầu nối. Kết quả theo dõi huyết động cho thấy gây mê bằng sevoflurane hoặc desflurane bảo tồn chỉ số co bóp cơ tim dP/dt(max) và hạn chế giải phóng troponin I tốt hơn đáng kể so với propofol sau tuần hoàn ngoài cơ thể. Dữ liệu ghi nhận thuốc mê bốc hơi bảo vệ cơ tim vượt trội trong phẫu thuật bệnh động mạch vành nặng.

  • Mức độ miR-122 và miR-370 liên quan đến chuyển hóa lipid trong huyết tương tăng cao ở bệnh nhân tăng lipid máu và có liên quan đến bệnh động mạch vành

    Dịch bởi AIPlasma levels of lipometabolism-related miR-122 and miR-370 are increased in patients with hyperlipidemia and associated with coronary artery disease

    Wei Gao và cộng sự2012Lipids in Health and Disease169 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Phân tích bệnh chứng trên 255 người tăng lipid máu và 100 đối chứng nhằm xác định nồng độ các microRNA liên quan đến nguy cơ tiến triển bệnh động mạch vành. Kỹ thuật PCR thời gian thực ghi nhận nồng độ miR-122 và miR-370 huyết tương tăng cao, đồng thời tương quan thuận chặt chẽ với mức độ hẹp mạch theo thang điểm Gensini. Phát hiện chỉ ra giá trị của hai dấu ấn sinh học phân tử này trong phản ánh gánh nặng tổn thương xơ vữa ở động mạch vành.

  • Sự biểu hiện của <i>miR-146a/b</i> liên quan đến tín hiệu thụ thể Toll-like 4 trong bệnh động mạch vành: ảnh hưởng của việc ức chế hệ thống renin–angiotensin và statin đối với các mức <i>miRNA-146a</i>/<i>b</i> và thụ thể Toll-like 4

    Dịch bởi AIExpression of<i>miR-146a/b</i>is associated with the Toll-like receptor 4 signal in coronary artery disease: effect of renin–angiotensin system blockade and statins on<i>miRNA-146a</i>/<i>b</i>and Toll-like receptor 4 levels

    Yūji Takahashi và cộng sự2010Clinical Science158 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Theo dõi can thiệp trên 66 bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành và 33 người đối chứng nhằm khảo sát thụ thể TLR4 cùng miR-146a trong đáp ứng điều trị nội khoa 12 tháng. Phối hợp atorvastatin với telmisartan hoặc enalapril làm giảm rõ rệt các dấu ấn viêm IRAK1 và TRAF6, trong đó nhánh chẹn thụ thể angiotensin đạt mức ức chế vượt trội hơn. Kết quả cho thấy phác đồ kết hợp giúp điều hòa miễn dịch chống xơ vữa và hỗ trợ tiên lượng biến cố lâu dài ở động mạch vành.

Tài liệu tham khảo

  1. Elliott, Elliott, Lambiase, Kumar (2020). Coronary artery disease and myocardial infarction. Inherited Cardiac Disease. DOI: 10.1093/med/9780198829126.003.0013
  2. Verstraete, Verstraete (1991). Combination of urokinase and alteplase in the treatment of myocardial infarction. Coronary Artery Disease. DOI: 10.1097/00019501-199104000-00013
  3. Villanueva, Villanueva (2000). The use of myocardial contrast echocardiography in clinical evaluation after myocardial infarction. Coronary Artery Disease. DOI: 10.1097/00019501-200005000-00006