Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Pirenzepine là gì? Cơ chế dược lý và hiệu quả lâm sàng

Tiếng Anhpirenzepine

Tên gọi khácpirenzepinpirenzepinumLS-519

Pirenzepine là thuốc đối kháng cạnh tranh chọn lọc trên phân nhóm thụ thể muscarinic M1, có tác dụng ức chế bài tiết acid dịch vị dạ dày và làm chậm tiến triển cận thị.

Cập nhật 12/9/2026

Pirenzepine là thuốc đối kháng cạnh tranh chọn lọc trên thụ thể muscarinic M1, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử dược lý học thụ thể cholinergic khi lần đầu tiên chứng minh thực nghiệm tính không đồng nhất về mặt chức năng của các phân nhóm thụ thể muscarinic. Trước khi hợp chất này được tổng hợp và nghiên cứu sinh học, các chất kháng cholinergic kinh điển như atropine hay scopolamine đều tác động đồng thời lên toàn bộ các thụ thể muscarinic trên khắp cơ thể, gây ra hàng loạt tác động toàn thân ngoài ý muốn. Với cấu trúc dẫn xuất pyridobenzodiazepine đặc thù, pirenzepine thể hiện ái lực gắn kết cao vượt trội đối với thụ thể M1 phân bố tại các hạch phó giao cảm và tế bào thần kinh, qua đó mở ra các ứng dụng điều trị chuyên biệt từ kiểm soát bài tiết dịch vị dạ dày đến ngăn ngừa tiến triển cận thị học đường.

Cấu trúc hóa lý và đặc tính dược học phân tử

Về mặt hóa học, pirenzepine là một dẫn xuất tricyclic thuộc nhóm pyridobenzodiazepine. Phân tử này có tên danh pháp quốc tế là dẫn xuất pyridobenzodiazepine gắn chuỗi methylpiperazinylacetyl. Hợp chất thường được bào chế dưới dạng muối hydrochloride tan tốt trong nước.

Đặc tính phân tử quan trọng nhất quyết định tính chọn lọc mô của pirenzepine là tính phân cực ưa nước tương đối cao. Không giống các chất kháng cholinergic bậc ba ưa mỡ dễ dàng thâm nhập vào hàng rào máu não, cấu trúc hóa học phân cực của pirenzepine làm giảm khả năng khuếch tán qua hàng rào máu não khi sử dụng qua đường toàn thân ở các liều điều trị thông thường. Đặc tính phân cực này giúp giảm thiểu đáng kể các tác dụng không mong muốn trên hệ thần kinh trung ương như lú lẫn, ảo giác, suy giảm nhận thức hoặc an thần quá mức vốn là những nguy cơ điển hình của atropine và scopolamine.

Tại vị trí gắn kết của thụ thể muscarinic M1, pirenzepine tương tác với túi gắn phối tử thông qua các liên kết tĩnh điện và liên kết hydro với các acid amin bảo tồn trong các vòng xoắn xuyên màng. Ái lực gắn kết của pirenzepine với thụ thể M1 vượt trội so với ái lực của nó đối với các thụ thể muscarinic phân nhóm M2 và M3, cho phép thuốc tạo ra tác động ức chế chuyên biệt trên đường truyền tín hiệu do acetylcholine khởi phát tại các vị trí tiếp hợp thần kinh chứa ưu thế thụ thể M1.

Dược lực học và cơ chế tác dụng sinh học

Hệ thống thụ thể muscarinic thuộc siêu họ thụ thể liên kết protein G (GPCR), được phân chia thành năm phân nhóm từ M1 đến M5. Trong đó, thụ thể M1 liên kết chủ yếu với protein Gq/11, hoạt hóa enzyme phospholipase C-beta (PLC-beta), dẫn đến thủy phân phosphatidylinositol bisphosphate thành inositol trisphosphate và diacylglycerol (DAG), gây giải phóng calci nội bào và kích hoạt protein kinase C (PKC).

Pirenzepine hoạt động như một chất đối kháng cạnh tranh thuần túy, phong tỏa vị trí liên kết của chất dẫn truyền thần kinh nội sinh acetylcholine trên thụ thể M1. Cơ chế ức chế chọn lọc này mang lại những hệ quả sinh lý học đặc thù tùy theo từng cơ quan mô đích:

  • Tại hệ tiêu hóa: Pirenzepine phong tỏa các thụ thể M1 nằm ở các hạch thần kinh phó giao cảm nội tại thuộc đám rối thần kinh ruột (Auerbach và Meissner) cũng như các tận cùng thần kinh trước hạch chi phối dạ dày. Sự phong tỏa này ngăn chặn dòng tín hiệu cholinergic truyền tới các tế bào thành (tế bào viền bài tiết acid chlohydric) và các tế bào ECL (bài tiết histamine). Nhờ đó, bài tiết acid dịch vị cơ bản cũng như bài tiết acid đáp ứng với kích thích thức ăn, gastrin hay dây thần kinh phế vị bị ức chế rõ rệt.
  • Tại mô nhãn cầu: Các nghiên cứu thị giác đã xác định sự hiện diện của các phân nhóm thụ thể muscarinic, đặc biệt là M1 và M4, tại võng mạc, biểu mô sắc tố võng mạc và màng củng mạc. Pirenzepine ngăn chặn tín hiệu cholinergic cục bộ kích hoạt tái cấu trúc khuôn ngoại bào củng mạc, ức chế sự suy giảm tổng hợp collagen và glycosaminoglycan, từ đó hạn chế sự kéo dài quá mức của trục nhãn cầu trước sau – nguyên nhân cốt lõi dẫn đến cận thị trục.

Hiệu quả ức chế bài tiết acid dịch vị và điều trị loét dạ dày tá tràng

Theo tổng quan dược lý toàn diện của Carmine và Brogden (1985), pirenzepine là một thuốc kháng muscarinic chọn lọc đặc biệt, có khả năng ức chế bài tiết acid dịch vị ở các mức liều thấp hơn nhiều so với các mức liều làm thay đổi nhu động đường tiêu hóa, chức năng tim mạch, bài tiết nước bọt hoặc thị giác. Tính theo khối lượng, pirenzepine có hoạt lực ức chế bài tiết acid dạ dày do kích thích bằng 1/10 đến 1/8 so với hoạt lực của atropine (Carmine và Brogden, 1985). Tuy hoạt lực trên từng miligram thấp hơn atropine, pirenzepine lại sở hữu chỉ số điều trị vượt trội vì không gây giãn đồng tử mạnh, không gây liệt thể mi nặng, không làm tăng nhịp tim nhanh kịch phát và ít gây khô miệng trầm trọng ở các mức liều điều trị có hiệu quả chống loét.

Trong thực hành lâm sàng tiêu hóa trong nửa cuối thế kỷ hai mươi, pirenzepine từng là một trong những giải pháp nội khoa chủ chốt điều trị bệnh loét dạ dày tá tràng và hội chứng tăng tiết acid trước khi có sự xuất hiện phổ biến của các thuốc ức chế bơm proton (PPI). Thuốc làm giảm đáng kể nồng độ ion hydro tự do trong dịch vị mà không làm mất hoàn toàn hàng rào bảo vệ sinh lý tự nhiên của niêm mạc. Kể từ khi các thuốc PPI như omeprazole và esomeprazole được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng và trở thành lựa chọn hàng đầu trong kiểm soát acid dịch vị, pirenzepine vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử và khoa học như một minh chứng kinh điển cho việc điều hòa chức năng cơ quan thông qua phân nhóm thụ thể thần kinh chọn lọc.

Ứng dụng lâm sàng trong kiểm soát tiến triển cận thị học đường

Một trong những bước chuyển hướng quan trọng nhất trong nghiên cứu ứng dụng pirenzepine là kiểm soát sự gia tăng độ cận thị ở trẻ em trong độ tuổi đi học. Trước đây, atropine nồng độ cao đã được chứng minh có khả năng ức chế tiến triển cận thị nhưng lại gây liệt cơ thể mi nghiêm trọng và giãn đồng tử kéo dài, khiến trẻ bị chói mắt, suy giảm thị lực nhìn gần và phải đeo kính hiệu chỉnh quang học phức tạp. Vì pirenzepine có ái lực rất thấp với các thụ thể muscarinic M3 chi phối cơ co đồng tử và cơ thể mi ở mắt, các nhà nghiên cứu nhãn khoa đã bào chế pirenzepine dưới dạng gel tra mắt 2% để nhắm trúng đích mô củng mạc và võng mạc mà không gây liệt điều tiết nặng nề.

Hiệu quả kiểm soát cận thị của gel pirenzepine 2% đã được xác nhận qua các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược quy mô lớn:

Song song với các thử nghiệm tại châu Á, Siatkowski và cộng sự (2004) đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đôi đa trung tâm kéo dài 1 năm tại Mỹ trên trẻ em từ 8 đến 12 tuổi để đánh giá tính an toàn và hiệu lực của gel pirenzepine 2% (Siatkowski và cs., 2004). Kết quả từ nghiên cứu của Siatkowski và cộng sự (2004) cũng như nghiên cứu tiếp nối của Tan và cộng sự (2004) cùng khẳng định khả năng làm chậm tốc độ tăng độ cận thị có ý nghĩa thống kê của gel tra mắt pirenzepine 2% so với giả dược.

Trong thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm kéo dài 1 năm tiến hành tại 7 trung tâm hàn lâm và phòng khám chuyên khoa ở châu Á do Tan và cộng sự (2004) thực hiện, 353 trẻ em khỏe mạnh từ 6 đến 12 tuổi có tật khúc xạ tương đương cầu từ -0,75 D đến -4,00 D và độ loạn thị không quá 1,00 D đã được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng gel pirenzepine 2% hai lần mỗi ngày, gel pirenzepine 2% một lần mỗi ngày vào buổi tối, hoặc giả dược trong thời gian 1 năm. Kết quả sau 12 tháng theo dõi cho thấy mức gia tăng độ cận thị trung bình ở nhóm dùng gel pirenzepine 2% hai lần mỗi ngày chỉ là 0,47 D, so với mức tăng 0,84 D ở nhóm dùng giả dược (P < 0,001) (Tan và cs., 2004). Sự chênh lệch này khẳng định khả năng làm chậm tiến trình phát triển cận thị một cách có ý nghĩa thống kê của phân tử kháng M1 chọn lọc. Tỷ lệ bệnh nhân ngừng điều trị do biến cố bất lợi trong nghiên cứu là 11%, tương ứng với 31 trên tổng số 282 bệnh nhân được điều trị bằng pirenzepine, phần lớn liên quan đến kích ứng nhẹ tại chỗ hoặc viêm kết mạc dị ứng nhẹ có thể hồi phục hoàn toàn (Tan và cs., 2004).

Để đánh giá liệu hiệu quả làm chậm cận thị của thuốc có được duy trì ổn định trong thời gian dài hay không, Siatkowski và cộng sự (2008) đã công bố kết quả nghiên cứu lâm sàng đa trung tâm, ngẫu nhiên mù đôi kéo dài 2 năm tại Mỹ trên trẻ em từ 8 đến 12 tuổi. Sau năm đầu tiên, mức tăng độ cận thị trung bình ở nhóm dùng pirenzepine chỉ là 0,26 D so với 0,53 D ở nhóm giả dược (p < 0,001) (Siatkowski và cs., 2008). Khi tiếp tục theo dõi điều trị đến hết năm thứ hai, mức tăng độ cận thị trung bình tích lũy là 0,58 D ở nhóm dùng pirenzepine so với 0,99 D ở nhóm giả dược (p = 0,008) (Siatkowski và cs., 2008). Về tính an toàn, tỷ lệ bệnh nhân rút khỏi thử nghiệm do tác dụng phụ là 11% trong năm đầu tiên với 13 bệnh nhân và chỉ có thêm 1 bệnh nhân trong năm thứ hai (Siatkowski và cs., 2008). Kết quả này chứng minh rằng gel tra mắt pirenzepine 2% duy trì khả năng ức chế tiến triển cận thị liên tục trong 2 năm mà không xuất hiện các biến cố nhiễm độc tích lũy nghiêm trọng.

Gần đây, các nghiên cứu thực nghiệm cơ chế vào năm 2026 của Thomson, Karouta và Ashby đã làm sáng tỏ thêm cơ sở sinh học phân tử của hiện tượng ức chế kéo dài trục nhãn cầu. Khảo sát trên các mô hình cận thị thực nghiệm bao gồm cận thị do tước đoạt hình ảnh và cận thị do thấu kính điều chỉnh quang học, nhóm tác giả chỉ ra rằng tác dụng bảo vệ của pirenzepine và atropine có thể không chỉ phụ thuộc đơn thuần vào thụ thể muscarinic cổ điển mà còn có sự đóng góp của con đường điều hòa tương tác chéo với hệ thống dẫn truyền serotonergic tại võng mạc (Thomson và cs., 2026). Phát hiện này mở rộng hiểu biết về mạng lưới tín hiệu đa thụ thể chi phối sự phát triển hình thái nhãn cầu.

So sánh đối chiếu đặc tính dược lý

Bảng đối chiếu dưới đây so sánh các đặc tính dược lực học, tính chọn lọc thụ thể và hồ sơ tác dụng phụ của pirenzepine so với các hoạt chất kháng muscarinic khác được sử dụng trong nghiên cứu và điều trị:

Tiêu chí so sánh Pirenzepine Atropine Scopolamine
Cấu trúc hóa học Dẫn xuất pyridobenzodiazepine phân cực Alkaloid tự nhiên chứa nhân tropane Alkaloid tự nhiên có cầu epoxy
Tính chọn lọc thụ thể Chọn lọc cao trên phân nhóm muscarinic M1 Không chọn lọc, phong tỏa đồng thời M1, M2, M3, M4, M5 Không chọn lọc, phong tỏa đồng thời toàn bộ phân nhóm muscarinic
Khả năng qua hàng rào máu não Rất kém do tính ưa nước phân cực cao Tốt, dễ dàng khuếch tán vào dịch não tủy Rất mạnh, thâm nhập nhanh vào hệ thần kinh trung ương
Tác động trên đồng tử và thể mi Rất yếu ở liều điều trị thông thường, ít gây liệt điều tiết Gây giãn đồng tử mạnh và liệt thể mi kéo dài nhiều ngày Gây giãn đồng tử mạnh và liệt điều tiết thị giác sâu
Ảnh hưởng nhịp tim và khô miệng Tỷ lệ rất thấp do không có ái lực mạnh trên M2 và M3 Rất thường gặp, gây nhịp tim nhanh và khô miệng nặng Thường gặp, kèm theo ức chế bài tiết dịch cơ thể mạnh
Ứng dụng điều trị chính Ức chế acid dạ dày và kiểm soát tiến triển cận thị Cấp cứu tim mạch, giải độc phospho hữu cơ, tiền mê Chống say tàu xe, an thần, giảm tiết đường hô hấp

Dược động học và tính an toàn lâm sàng

Dược động học của pirenzepine phản ánh rõ nét đặc tính cấu trúc phân tử của hợp chất. Khi dùng theo đường uống, khả năng hấp thu của thuốc qua niêm mạc ống tiêu hóa ở mức vừa phải và dao động tùy thuộc vào sự có mặt của thức ăn. Nồng độ đỉnh trong huyết tương thường đạt được sau vài giờ sau khi uống. Do độ tan trong lipid thấp, thể tích phân bố của thuốc ở mức tương đối hạn chế, chủ yếu phân bố ở khoang dịch ngoại bào và các mô ngoại vi mà không tích tụ ở mô mỡ hay hệ thần kinh trung ương.

Thuốc ít bị chuyển hóa qua hệ enzyme gan cytochrome P450. Pirenzepine được đào thải chủ yếu qua thận dưới dạng nguyên vẹn qua quá trình lọc cầu thận và bài tiết tích cực qua ống thận, cùng một phần bài tiết qua mật vào phân. Theo tổng quan dược lý của Carmine và Brogden (1985), thời gian bán thải biểu kiến trong huyết tương dao động trong khoảng từ 10 đến 12 giờ, cho phép duy trì nồng độ ức chế khi dùng 2 lần mỗi ngày (Carmine và Brogden, 1985).

Khi dùng tại chỗ dưới dạng gel tra mắt, mức độ hấp thu toàn thân là không đáng kể, nồng độ hoạt chất trong máu ngoại vi sau khi tra mắt thường ở dưới ngưỡng định lượng sinh học tiêu chuẩn. Các phản ứng bất lợi phổ biến nhất của dạng dùng tại mắt chủ yếu mang tính chất khu trú tại chỗ, bao gồm cộm mắt thoáng qua, ngứa nhẹ mí mắt, sung huyết kết mạc hoặc lắng đọng nhẹ màng thuốc tại khóe mắt. Hầu hết các phản ứng này tự thuyên giảm hoặc kiểm soát được khi điều chỉnh kỹ thuật nhỏ mắt mà không để lại tổn thương giác mạc vĩnh viễn.

Triển vọng và hướng nghiên cứu tương lai

Mặc dù vai trò của pirenzepine trong điều trị loét dạ dày tá tràng đã nhường chỗ cho các nhóm thuốc mới hơn, sự quan tâm của cộng đồng y sinh học đối với phân tử này vẫn tiếp tục duy trì và mở rộng sang các hướng nghiên cứu y sinh học chuyên sâu:

  • Kiểm soát tật khúc xạ trẻ em: Các công thức phối hợp quang học và dược lý trúng đích thụ thể muscarinic M1 tiếp tục là chủ đề thu hút sự chú ý trong bối cảnh tỷ lệ cận thị học đường đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu. Các nghiên cứu đang tập trung phát triển hệ thống phóng thích kéo dài hoặc hạt nano nhắm đích để tăng cường sinh khả dụng tại củng mạc mà giảm thiểu tối đa tần suất tra mắt.
  • Dụng cụ hóa sinh và nghiên cứu cơ bản: Pirenzepine vẫn là công cụ nghiên cứu dược lý quan trọng trong các phòng thí nghiệm sinh học phân tử để xác định đặc tính, phân loại kiểu hình và lập bản đồ phân bố của thụ thể muscarinic M1 trong các cấu trúc não bộ và mô hình bệnh học phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

Pirenzepine khác gì so với các thuốc kháng cholinergic kinh điển như atropine?

Pirenzepine phong tỏa chọn lọc trên phân nhóm thụ thể muscarinic M1 thay vì ức chế toàn bộ các thụ thể muscarinic như atropine. Nhờ đó, thuốc ức chế bài tiết acid dịch vị dạ dày và giảm tiến triển cận thị mà ít gây khô miệng, tim đập nhanh hay liệt điều tiết nhìn mờ.

Pirenzepine có còn được dùng phổ biến để điều trị loét dạ dày tá tràng không?

Tính đến năm 2026, pirenzepine đã được thay thế phần lớn bởi các thuốc ức chế bơm proton (PPI) và kháng thụ thể H2 do hiệu quả ức chế acid vượt trội và tiện dụng hơn, nhưng pirenzepine vẫn giữ vai trò lịch sử quan trọng và là công cụ nghiên cứu dược lý kinh điển.

Gel tra mắt pirenzepine 2% kiểm soát tiến triển cận thị ở trẻ em như thế nào?

Gel pirenzepine 2% tác động chọn lọc lên thụ thể muscarinic tại củng mạc và võng mạc nhằm hạn chế tái cấu trúc khuôn ngoại bào và sự kéo dài trục nhãn cầu, giúp làm chậm tốc độ tăng độ cận thị có ý nghĩa thống kê mà không gây giãn đồng tử quá mức.

Tài liệu tham khảo

  1. Carmine, A. A., & Brogden, R. N. (1985). Pirenzepine: A review of its pharmacodynamic and pharmacokinetic properties and therapeutic efficacy in peptic ulcer disease and other allied diseases. Drugs, 30(2), 85-126. DOI: 10.2165/00003495-198530020-00001
  2. Siatkowski, R. M., Cotter, S., Crockett, R. S., Miller, J. M., Novack, G. D., & Pirenzepine Study Group. (2004). Safety and efficacy of 2% pirenzepine ophthalmic gel in children with myopia: a 1-year, multicenter, double-masked, placebo-controlled parallel study. Archives of Ophthalmology, 122(11), 1667-1674. DOI: 10.1001/archopht.122.11.1667
  3. Tan, D. T., Lam, D. S., Chua, W. H., Shu-Ping, D. F., Crockett, R. S., & Asian Pirenzepine Study Group. (2004). One-year multicenter, double-masked, placebo-controlled, parallel safety and efficacy study of 2% pirenzepine ophthalmic gel in children with myopia. Ophthalmology, 112(1), 84-91. DOI: 10.1016/j.optha.2004.06.038
  4. Siatkowski, R. M., Cotter, S. A., Crockett, R. S., Miller, J. M., & Novack, G. D. (2008). Two-year multicenter, randomized, double-masked, placebo-controlled, parallel safety and efficacy study of 2% pirenzepine ophthalmic gel in children with myopia. Journal of AAPOS, 12(4), 332-339. DOI: 10.1016/j.jaapos.2007.10.014
  5. Thomson, K. L., Karouta, C., & Ashby, R. S. (2026). Contribution of the serotonergic system to myopia and the therapeutic effects of atropine and pirenzepine. Biomedicine & Pharmacotherapy, 182, 118922. DOI: 10.1016/j.biopha.2025.118922