Chuỗi markov là gì? Các công bố khoa học về Chuỗi markov

Chuỗi Markov là một loại quá trình ngẫu nhiên, trong đó sự tiến triển của sự kiện trong tương lai chỉ phụ thuộc vào trạng thái hiện tại mà không phụ thuộc vào lịch sử của quá khứ. Nó được mô tả bởi các trạng thái đặc trưng và ma trận xác suất chuyển đổi, cho biết xác suất chuyển từ một trạng thái sang một trạng thái khác. Chuỗi Markov được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, bao gồm xử lý ngôn ngữ tự nhiên, dự báo tài chính, xử lý ảnh và nhiều lĩnh vực khác.
Chuỗi Markov có thể được biểu diễn bằng một tập hữu hạn các trạng thái (số trạng thái có thể là rời rạc hoặc liên tục) và một ma trận xác suất chuyển đổi giữa các trạng thái. Ma trận xác suất chuyển đổi mô tả xác suất chuyển từ trạng thái hiện tại sang trạng thái mới trong một bước thời gian.

Ví dụ, nếu có 3 trạng thái có tên là A, B và C, ta có thể biểu diễn ma trận xác suất chuyển đổi như sau:

A 0.5 0.2 0.3
B 0.1 0.6 0.3
C 0.4 0.1 0.5

Trong ma trận này, mỗi hàng và mỗi cột đại diện cho một trạng thái và giá trị tại hàng i, cột j là xác suất chuyển từ trạng thái i sang trạng thái j.

Chuỗi Markov được xác định bằng trạng thái ban đầu và việc chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác thông qua các bước thời gian. Xác suất chuyển đổi trong ma trận xác suất chuyển đổi sẽ quyết định xác suất chuyển từ trạng thái hiện tại sang trạng thái mới.

Chuỗi Markov có tính chất "bộ nhớ ngắn", có nghĩa là dự đoán tương lai chỉ phụ thuộc vào trạng thái hiện tại và không quan tâm đến lịch sử của các trạng thái trước đó. Điều này giúp giảm thiểu số lượng thông tin cần lưu trữ và tính toán trong quá trình phân tích và dự đoán.
Trong chuỗi Markov, có một số khái niệm quan trọng cần nắm vững:

1. Trạng thái: Là các trạng thái mà hệ thống có thể tồn tại trong quá trình thời gian. Ví dụ, trong mô hình thời tiết, các trạng thái có thể là "nắng", "mưa", "mây" và "gió".

2. Ma trận xác suất chuyển đổi: Đây là ma trận vuông có cùng kích thước với số lượng trạng thái trong chuỗi Markov. Xác suất ở hàng i và cột j trong ma trận là xác suất chuyển từ trạng thái i sang trạng thái j trong một bước thời gian. Mỗi hàng trong ma trận có tổng các giá trị là 1.

3. Xác suất chuyển đổi: Là xác suất chuyển từ trạng thái hiện tại sang trạng thái mới trong một bước thời gian.

4. Quá trình chuyển đổi: Là quá trình mà chuỗi Markov đi qua các trạng thái theo các xác suất chuyển đổi. Mỗi bước trong quá trình chuyển đổi được xác định bởi xác suất chuyển từ trạng thái hiện tại sang trạng thái mới.

5. Trạng thái ban đầu: Là trạng thái đầu tiên khi bắt đầu quá trình chuyển đổi.

Chuỗi Markov có thể được sử dụng để dự đoán các sự kiện trong tương lai, dựa vào trạng thái hiện tại và xác suất chuyển đổi giữa các trạng thái. Nó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như dự báo thời tiết, phân tích tài chính, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, nhận dạng mẫu và nhiều lĩnh vực khác.

Danh sách công bố khoa học về chủ đề "chuỗi markov":

Phosphorescence Peculiarities and Structure of Glassy Benzophenone
Journal of Applied Spectroscopy - Tập 88 - Trang 710-715 - 2021
G. V. Klishevich, N. D. Curmei, N. I. Lebovka, V. I. Melnyk, A. G. Tereshchenko
Results of a comparative analysis of spectral-luminescent properties of crystalline and glassy benzophenone are presented. The main spectral characteristics (frequencies of purely electronic transitions in phosphorescence spectra, band half-widths, relative quantum yields) of glassy benzophenone have been found to possess a number of significant features as compared to the crystalline phase in the temperature range 4.2–220 K. Temperature-dependent structural changes in benzophenone have been studied by differential scanning calorimetry. The ability of phase transitions to appear in benzophenone and their sequences were shown to differ during cooling and heating of the samples. The relationship between the spectral characteristics of various benzophenone phases and their transition temperatures has been demonstrated. Model concepts describing the transport of charge carriers and the transfer of electronic excitation energy in disordered amorphous and glassy molecular systems and information on the glass structural features have been used to explain the experimental results.
Liver metastases of colorectal adenocarcinoma with intrahepatic biliary spread pattern: clinical manifestation and importance of immunohistochemical analysis
Clinical Journal of Gastroenterology - Tập 16 Số 5 - Trang 693-697 - 2023
Díaz Vico, Tamara, Castellón Pavón, Camilo José, Díaz García, Gustavo Adolfo, Torres Alemán, Ana, Pérez Domene, María Teresa, Sánchez Infante, Silvia, Fuel Gómez, Daniela Carolina, Durán Poveda, Manuel
Liver metastases of colorectal carcinoma (LMCC) with macroscopic intrabiliary ductal involvement are a rare entity that can clinically and radiologically mimic a cholangiocarcinoma. However, a thorough anatomopathologic and immunohistochemical study of biliary ductal involvement is required because of its distinctive clinical features and relatively indolent biological behavior, reflecting a better prognosis and long-term survival. We present the case of a patient who debuted with LMCC with intrahepatic biliary ductal involvement, whose definitive diagnosis was established by immunohistochemical analysis, showing a characteristic CK7 − /CK20 + pattern.
Dialysis disequilibrium syndrome: an unusual cause of respiratory failure in the medical intensive care unit
Intensive Care Medicine - Tập 26 - Trang 628-630 - 2000
V. DiFresco, M. Landman, B. L. Jaber, A. C. White
We describe a case of the dialysis disequilibrium syndrome (DDS) that was marked by the rapid onset of cerebral edema and the subsequent development of acute respiratory failure. The patient was treated successfully with a combination of mechanical hyperventilation and mannitol. The clinical presentation, pathogenesis, prevention and treatment of the entity are discussed.
The Wisdom of Eve: On Differentiating the Colours of Emotion that May Be Threats to Good Life
Social Indicators Research - Tập 107 - Trang 531-560 - 2011
Williams A. Akande, Bolanle Eliz Adetoun, Modupe Fal Adewuyi, Titilola Ikeoluwa E. Akande, L. P. Z. Ntshanga, Balin Dlamini, James T. Williamson, Nomvul Dladla, Zama Hlongwane, Osad Ibeagu, Erh J. Osagie
Emotion’s twin roles–‘unite and divide’ our daily life, thus motivating the good and the worst in human behaviour. The way one “feels” does influence the way one “acts” toward others. If this reasoning is correct, then behaviour can never be without motive or “motiveless.” Given the importance of emotions in human communication and decision making, the context of intergroup relations, with its themes of prejudice, stereotyping and discrimination against culturally dissimilar was touched on selectively. Using the Differential Emotions Scale and building upon Boyle’s (Personality 56:747–750, 1984) work, with students, the present study reports a repeated-measure multiple discriminant function analysis for items across raters. The findings further indicate that most of the DES items are sensitive indicators. The correspondence of some of the results with prior research findings makes facial emotions less the holy grail of the social behaviour field. Likely consequences of emotions are considered, and research needs are discussed vis-a-vis uplifting individual happiness, collective identity and sense of connection to others. Perhaps its implications can be extended to the literature, thus revealing how the different lenses through which human emotions are usually viewed are connected by the incipient/concept attitude and self-identification/labelling that run through each of them.
Reply to the EFSA (2016) on the relevance of recent publications (Hofmann et al. 2014, 2016) on environmental risk assessment and management of Bt-maize events (MON810, Bt11 and 1507)
Environmental Sciences Europe - Tập 29 - Trang 1-12 - 2017
Maren Kruse-Plass, Frieder Hofmann, Ulrike Kuhn, Mathias Otto, Ulrich Schlechtriemen, Boris Schröder, Rudolf Vögel, Werner Wosniok
In this commentary, we respond to a report of the EFSA GMO Panel (EFSA EFSA Supp Publ, 1) that criticises the outcomes of two studies published in this journal (Hofmann et al. Environ Sci Eur 26: 24, 2; Environ Sci Eur 28: 14, 3). Both publications relate to the environmental risk assessment and management of Bt-maize, including maize events MON810, Bt11 and maize 1507. The results of Hofmann et al. (Environ Sci Eur 26: 24, 2), using standardised pollen mass filter deposition measurements, indicated that the EFSA Panel model had underestimated pollen deposition and, hence, exposure of non-target organisms to Bt-maize pollen. The results implied a need for safety buffer distances in the kilometre range for protected nature reserve areas instead of the 20–30 m range recommended by the EFSA Panel. As a result, the EFSA Panel revised their model (EFSA EFSA J 13: 4127, 4), adopting the slope of the empirical data from Hofmann et al. The intercept, however, was substantially reduced to less than 1% at one point by introducing further assumptions based on the estimates of mainly panel members, citing possible ‘uncertainty’. Hofmann et al. (Environ Sci Eur 28: 14, 3) published extensive empirical data regarding pollen deposition on leaves. These results were part of a larger 3-year study involving detailed measurements of pollen release, dispersal and deposition over the maize flowering period. The data collected in situ confirmed the previous predictions of Hofmann et al. (Environ Sci Eur 26: 24, 2). Mean levels and observed variability of pollen deposition on maize and four lepidopteran host plants exceeded the assumptions and disagreed with the conclusions of the EFSA Panel. The EFSA Panel reacted in a report (EFSA EFSA Supp Publ, 1) criticising the methods and outcomes of the two published studies of Hofmann et al. while reaffirming their original recommendations. We respond here point-by-point, showing that the critique is not justified. Based on our results on Urtica leaf pollen density, we confirm the need for specific environmental impact assessments for Bt-maize cultivation with respect to protected habitats within isolation buffer distances in the kilometre range.
Myocardial aging
Basic Research in Cardiology - Tập 100 Số 6 - Trang 482-493 - 2005
Anversa, P., Rota, M., Urbanek, K., Hosoda, T., Sonnenblick, E. H., Leri, A., Kajstura, J., Bolli, R.
This review questions the old paradigm that describes the heart as a post–mitotic organ and introduces the notion of the heart as a self–renewing organ regulated by a compartment of multipotent cardiac stem cells (CSCs) capable of regenerating myocytes and coronary vessels throughout life. Because of this dramatic change in cardiac biology, the objective is to provide an alternative perspective of the aging process of the heart and stimulate research in an area that pertains to all of us without exception. The recent explosion of the field of stem cell biology, with the recognition that the possibility exists for extrinsic and intrinsic regeneration of myocytes and coronary vessels, necessitates reevaluation of cardiac homeostasis and myocardial aging. From birth to senescence, the mammalian heart is composed of non–dividing and dividing cells. Loss of telomeric DNA is minimal in fetal and neonatal myocardium but rather significant in the senescent heart. Aging affects the growth and differentiation potential of CSCs interfering not only with their ability to sustain physiological cell turnover but also with their capacity to adapt to increases in pressure and volume loads. The recognition of factors enhancing the activation of the CSC pool, their mobilization, and translocation, however, suggests that the detrimental effects of aging on the heart might be prevented or reversed by local stimulation of CSCs or the intramyocardial delivery of CSCs following their expansion and rejuvenation in vitro. CSC therapy may become, perhaps, a novel strategy for the devastating problem of heart failure in the old population.
Calculating the energy of vacancies and adatoms in a hexagonal SiC monolayer
Russian Journal of Physical Chemistry A - Tập 86 - Trang 1091-1095 - 2012
A. A. Kuzubov, N. S. Eliseeva, P. O. Krasnov, F. N. Tomilin, A. S. Fedorov, A. V. Tolstaya
It is noted that the development of semiconductor SiC-electronics is prevented by a low quality of grown silicon carbide single crystals. It is found that structural defects of a substrate penetrating into an epitaxial layer upon subsequent homoepitaxial growth can considerably degrade a device’s characteristics. We investigate the effect of the deformation of a hexagonal SiC monolayer on vacancy stability and material properties, and study the processes of silicon and carbon adatom migration over a surface of SiC.
Gastric Cancer and Paraneoplastic Pemphigus
Indian Journal of Surgery - Tập 77 Số 6 - Trang 545-546 - 2015
Basir, Norwani, Telisinghe, Pemasari Upali, Chong, Vui Heng
Paraneoplastic pemphigus is a relatively rare but significant acquired autoimmune mucocutaneous disorder that is characterised by diffuse erythema, painful blistering and sores of the skin and mucus membranes. The underlying pathogenesis is believed to be triggered by altered immune system in response to underlying neoplasm. The manifestations can predate, occur at the same time or after the diagnosis of cancer. Associations with gastric cancer have only been reported twice. A 78-year-old lady presented with a month’s history of extensive skin lesions that started off as bullous lesions and biopsy revealed bullous pemphigus. Endoscopy for anemia revealed gastric cancer. This case reinforced the need to consider underlying malignancy in elderly patient with new onset dermatological presentation.
Yale Child Study Center Autism Program, 10th Annual Summer Institute on Autism Spectrum Disorders, Monday–Thursday, July 11–14th, 2011
Journal of Autism and Developmental Disorders - Tập 41 - Trang 528-528 - 2011
Celine Saulnier
Thermal stability of [B]ZSM-5 molecular sieve
Korean Journal of Chemical Engineering - Tập 8 Số 1 - Trang 1-5 - 1991
Hong, Suk Bong, Uh, Young Sun, Woo, Seong Ihl, Lee, Jae Kyu
The thermal stability of [BJZSM-5 (boronsilicalite) has been examined by IR, XRD,11B MAS NMR and XPS techniques. [B]ZSM-5 and amorphous borosilicate were converted to α-cristobalite at high temperatures (=750C). However, Na-free amorphous borosilicate was not converted to a-cristobalite at 750C. Therefore, the presence of Na ions in [BJZSM-5 would determine whether this transition occurred or not. When the phase transition to α-cristobalite occurred, most of B atoms tetrahedrally coordinated were released from the ZSM-5 structure and migrated to the exterior surface as a boron compound having trigonal BO3 units and oxidation states of 3.
Tổng số: 3,651,614   
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 365162