Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Các bệnh huyết học là gì? Phân loại và chẩn đoán

Tiếng Anhhematologic diseases

Tên gọi khácbệnh huyết họcbệnh lý huyết họcrối loạn huyết họchematological disorders

Các bệnh huyết học là nhóm bệnh lý phát sinh từ sự rối loạn cấu trúc, chức năng hoặc số lượng của các tế bào máu cũng như các cơ quan tạo máu và cơ quan lympho trong cơ thể. Nhóm bệnh này bao gồm các thương tổn đa dạng từ suy giảm sinh tế bào máu, tan máu ngoại vi, tăng sinh ác tính vô tính các tế bào đầu dòng, cho đến các rối loạn phức tạp trong cơ chế cầm máu và đông máu.

Cập nhật 11/9/2026

Các bệnh huyết học là nhóm bệnh lý phát sinh từ sự rối loạn cấu trúc, chức năng hoặc số lượng của các tế bào máu cũng như các cơ quan tạo máu và cơ quan lympho trong cơ thể. Nhóm bệnh này bao gồm các thương tổn đa dạng từ suy giảm sinh tế bào máu, tan máu ngoại vi, tăng sinh ác tính vô tính các tế bào đầu dòng, cho đến các rối loạn phức tạp trong cơ chế cầm máu và đông máu. Bài viết này cung cấp cái nhìn tổng quan toàn diện về giải phẫu sinh lý hệ tạo máu, cơ chế bệnh sinh học, hệ thống phân loại chi tiết các bệnh lý huyết học theo tiêu chuẩn quốc tế và hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam, các phương pháp thăm dò cận lâm sàng hiện đại, tiến bộ điều trị đột phá và thực trạng dịch tễ học trong nước.

Giải phẫu sinh lý hệ tạo máu và cơ chế bệnh sinh

Hệ tạo máu ở người trưởng thành là một hệ thống sinh học có tính tái sinh và biệt hóa liên tục, đảm bảo cung cấp đầy đủ các thành phần tế bào thực hiện chức năng vận chuyển khí, miễn dịch bảo vệ cơ thể và duy trì tính toàn vẹn của lòng mạch. Tủy xương đỏ, nằm trong các khoang xốp của xương chậu, xương ức, xương sườn, thân đốt sống và đầu các xương dài, là cơ quan sinh máu duy nhất trong điều kiện sinh lý bình thường sau sinh.

Toàn bộ các dòng tế bào máu đều có nguồn gốc từ tế bào gốc tạo máu vạn năng (hematopoietic stem cells, HSC). Tế bào gốc tạo máu sở hữu hai đặc tính sinh học cốt lõi: khả năng tự làm mới (self-renewal) để duy trì bể tế bào gốc suốt đời sống cá thể và tiềm năng biệt hóa đa dòng (multipotency) thành mọi loại tế bào máu trưởng thành. Sự tồn tại và hoạt động của tế bào gốc tạo máu được kiểm soát chặt chẽ bởi vi môi trường tủy xương (hematopoietic stem cell niche), gồm các tế bào nội mô mạch máu, tế bào mô đệm trung mô, nguyên bào xương, đại thực bào và mạng lưới ngoại bào, cùng các yếu tố kích thích sinh máu như erythropoietin, thrombopoietin, G-CSF và các cytokine chuyên biệt.

Quá trình biệt hóa từ tế bào gốc tạo máu diễn ra theo hai nhánh phát triển chính:

  • Dòng tiền thân tủy chung (common myeloid progenitor, CMP): Biệt hóa thành dòng hồng cầu (erythroid lineage) chịu trách nhiệm vận chuyển oxy; dòng mẫu tiểu cầu (megakaryocytic lineage) giải phóng các mảnh bào tương tiểu cầu vào tuần hoàn; dòng bạch cầu hạt (granulocytic lineage) gồm bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm; và dòng bạch cầu đơn nhân (monocytic lineage) phát triển thành đại thực bào mô.
  • Dòng tiền thân lympho chung (common lymphoid progenitor, CLP): Di chuyển và cư trú tại các cơ quan lympho trung ương và ngoại vi để biệt hóa thành các lympho bào B, lympho bào T và tế bào diệt tự nhiên (natural killer cells, NK), thiết lập mạng lưới miễn dịch thích ứng và miễn dịch bẩm sinh.

Các cơ chế bệnh sinh chủ yếu dẫn đến các bệnh huyết học bao gồm:

  1. Suy giảm sản xuất tế bào (hypoproliferation/cytopenia): Hậu quả từ tổn thương hoặc suy kiệt tế bào gốc tạo máu nguyên phát (suy tủy xương), tổn thương vi môi trường đệm tủy do hóa chất hoặc xạ trị, hoặc thiếu hụt các nguyên liệu sinh học thiết yếu như sắt, vitamin B12 và acid folic.
  2. Tăng sinh tế bào ác tính vô tính (clonal malignancy): Các đột biến gen soma tích lũy làm hoạt hóa gen sinh ung hoặc bất hoạt gen ức chế khối u, kích thích tế bào phân chia mất kiểm soát, trốn tránh quá trình chết theo chương trình (apoptosis) và đình trệ quá trình biệt hóa bình thường. Bệnh bạch cầu cấp và u lympho là biểu hiện điển hình của cơ chế này.
  3. Phá hủy hoặc tiêu hao tế bào ngoại vi quá mức: Tế bào máu trưởng thành bị phá hủy sớm trong hệ tuần hoàn do cơ chế tự miễn (kháng thể tự do gắn lên màng tế bào gây thực bào tại lách), do khiếm khuyết cấu trúc màng tế bào hoặc enzym nội bào, hoặc do hiện tượng bẫy bắt và tiêu hủy tại lách to (cường lách).
  4. Rối loạn cơ chế cầm máu và đông máu: Sự suy giảm tổng hợp hoặc khiếm khuyết chức năng của các yếu tố đông máu huyết tương, khiếm khuyết thụ thể kết tập tiểu cầu, hoặc sự hoạt hóa đông máu lan tỏa quá mức gây tiêu thụ yếu tố đông máu và hình thành huyết khối vi mạch.

Phân loại các bệnh huyết học

Trên lâm sàng, các bệnh huyết học được phân chia thành ba nhóm lớn dựa theo dòng tế bào chịu thương tổn chính và cơ chế bệnh học nền tảng.

Bệnh lý dòng hồng cầu

Bệnh lý dòng hồng cầu chủ yếu biểu hiện dưới hai dạng là thiếu máu (anemia - giảm khối lượng hồng cầu hoặc nồng độ hemoglobin lưu hành) và đa hồng cầu (erythrocytosis/polycythemia - tăng thể tích khối hồng cầu). Trong đó, hội chứng thiếu máu chiếm tỷ lệ áp đảo và được chia theo cơ chế nguyên nhân:

  • Thiếu máu do thiếu hụt dinh dưỡng: Phổ biến nhất là thiếu máu thiếu sắt, đặc trưng bởi hồng cầu nhỏ nhược sắc do không đủ sắt để tổng hợp nhân hem. Thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ do thiếu vitamin B12 hoặc acid folic dẫn đến suy giảm tổng hợp thymidylate trong DNA, làm nhân tế bào chậm phát triển trong khi bào tương vẫn tăng trưởng, sinh ra các hồng cầu to bất thường.
  • Bệnh huyết sắc tố (hemoglobinopathies): Nhóm bệnh di truyền cấu trúc hoặc sản xuất hemoglobin. Điển hình là bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh), phát sinh do đột biến gen làm giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng tổng hợp chuỗi alpha-globin (alpha-thalassemia) hoặc chuỗi beta-globin (beta-thalassemia). Sự mất cân bằng giữa các chuỗi globin dẫn đến kết tủa chuỗi đơn độc tự do, gây vỡ hồng cầu ngay trong tủy xương và tan máu tại lách. Bệnh hồng cầu hình liềm (sickle cell disease) do đột biến điểm làm biến đổi acid amin trên chuỗi beta-globin, tạo ra hemoglobin S kết tinh khi thiếu oxy làm hồng cầu biến dạng hình liềm, gây tắc mạch vi tuần hoàn.
  • Thiếu máu huyết tán (hemolytic anemias): Hồng cầu bị rút ngắn đời sống lưu hành bình thường. Tan máu miễn dịch bao gồm thiếu máu tan máu tự miễn (AIHA) do tự kháng thể ấm IgG hoặc kháng thể lạnh IgM tấn công kháng nguyên hồng cầu. Tan máu không do miễn dịch bao gồm khiếm khuyết màng hồng cầu (bệnh hồng cầu hình cầu di truyền), khiếm khuyết men nội bào (thiếu men G6PD gây tan máu cấp khi gặp tác nhân oxy hóa), và bệnh đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm (PNH) do đột biến soma gen PIGA khiến hồng cầu mất lớp bảo vệ màng chống lại sự ly giải của hệ thống bổ thể.
  • Suy tủy xương (aplastic anemia): Tình trạng suy giảm sinh máu toàn thể do tủy xương bị xơ hóa hoặc mỡ hóa, giảm sinh cả ba dòng tế bào máu ngoại vi mà không có sự thâm nhiễm của tế bào ác tính. Cơ chế chủ yếu liên quan đến rối loạn miễn dịch qua trung gian tế bào lympho T độc gây độc tế bào gốc tạo máu.

Bệnh lý dòng bạch cầu và ác tính huyết học

Nhóm bệnh này bao gồm các bệnh lý phản ứng lành tính (tăng bạch cầu do nhiễm trùng, giảm bạch cầu hạt do thuốc) và các khối u ác tính của hệ tạo máu và mô lympho:

  • Bạch cầu cấp (acute leukemia): Tình trạng tăng sinh vô tính ác tính của các tế bào tiền thân non (tế bào blast), làm đình trệ quá trình biệt hóa và thâm nhiễm tủy xương. Bệnh nhân nhanh chóng rơi vào hội chứng suy tủy với thiếu máu nặng, sốt nhiễm trùng cơ hội và xuất huyết lan tỏa. Theo tổng quan bệnh học của Khwaja và cs. (2016), bạch cầu cấp dòng tủy (AML) là bệnh lý vô tính phức tạp với sự tích tụ nhanh chóng của các tế bào blast dòng tủy trong tủy xương và máu ngoại vi. Cùng với bạch cầu cấp dòng lympho (ALL), đây là các bệnh lý tiến triển tối cấp đòi hỏi can thiệp y khoa khẩn cấp. Theo tiêu chuẩn phân loại năm 2022 của Tổ chức Y tế Thế giới WHO (Khoury và cs., 2022), chẩn đoán xác định bạch cầu cấp dòng tủy phần lớn yêu cầu ngưỡng tế bào non blast từ 20% trở lên trong tủy xương hoặc máu ngoại vi, ngoại trừ các trường hợp có bất thường di truyền đặc hiệu.
  • Bệnh tăng sinh tủy mạn ác tính (myeloproliferative neoplasms, MPN): Quá trình tăng sinh ác tính của các dòng tế bào tủy đã biệt hóa hoàn chỉnh. Bạch cầu mạn dòng tủy (CML) là bệnh lý kinh điển mang nhiễm sắc thể Philadelphia do chuyển đoạn tương hỗ t(9;22) liên quan nhiễm sắc thể 22, dẫn đến gen dung hợp BCR-ABL1 có hoạt tính tyrosine kinase liên tục. Các thể MPN âm tính với nhiễm sắc thể Philadelphia bao gồm bệnh đa hồng cầu nguyên phát (PV), tăng tiểu cầu tiên phát (ET) và xơ tủy vô căn (PMF), thường mang đột biến soma trên gen JAK2, CALR hoặc MPL.
  • Hội chứng rối loạn sinh tủy (myelodysplastic syndromes, MDS): Nhóm rối loạn tạo máu vô tính đặc trưng bởi sự tạo máu không hiệu quả, biến đổi hình thái dị sản ở ít nhất một dòng tế bào tủy và giảm tế bào máu ngoại vi, mang nguy cơ cao chuyển dạng thành bạch cầu cấp dòng tủy.
  • U lympho (lymphoma): Khối u ác tính xuất phát từ mô lympho hạch hoặc ngoài hạch. U lympho Hodgkin đặc trưng bởi tế bào khổng lồ đa nhân Reed-Sternberg trên nền thâm nhiễm tế bào viêm. U lympho không Hodgkin (NHL) chiếm đa số các ca bệnh, bao gồm nhiều phân nhóm tế bào B (như u lympho tế bào B lớn lan tỏa) và tế bào T/NK với đặc tính sinh học và mức độ ác tính phong phú.
  • Đa u tủy xương (multiple myeloma): Bệnh tăng sinh ác tính đơn dòng của tương bào trong tủy xương, tiết ra lượng lớn globulin miễn dịch đơn dòng (protein M) hoặc chuỗi nhẹ tự do. Quá trình này kích thích tiêu xương, gây hủy xương lan tỏa, tăng calci máu, suy giảm chức năng thận và thiếu máu thứ phát.

Bệnh lý cầm máu, đông máu và tiểu cầu

Hệ thống cầm đông máu duy trì sự cân bằng tinh tế giữa dòng máu chảy tự do và khả năng hình thành cục máu đông bịt kín tổn thương mạch máu. Rối loạn hệ thống này dẫn đến hai nhóm biểu hiện trái ngược: xuất huyết hoặc huyết khối.

  • Rối loạn số lượng và chức năng tiểu cầu: Xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch (ITP) là tình trạng tự kháng thể gắn lên glycoprotein màng tiểu cầu khiến chúng bị đại thực bào phá hủy tại lách, làm giảm số lượng tiểu cầu đơn độc trong khi tủy xương vẫn tăng sinh mẫu tiểu cầu bù trừ. Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (TTP) là bệnh lý vi mạch do thiếu hụt enzym phân cắt von Willebrand factor (ADAMTS13), tạo ra các vi huyết khối giàu tiểu cầu gây tắc mạch cơ quan và tan máu cơ học.
  • Rối loạn đông máu huyết tương di truyền: Điển hình là Hemophilia A (thiếu hụt yếu tố đông máu VIII) và Hemophilia B (thiếu hụt yếu tố đông máu IX), di truyền lặn liên kết nhiễm sắc thể giới tính X, chủ yếu biểu hiện ở nam giới với các đợt xuất huyết khớp và tụ máu cơ tái phát. Theo hướng dẫn quản lý toàn cầu của Liên đoàn Hemophilia Thế giới (Srivastava và cs., 2020), bệnh được phân loại thành ba mức độ dựa trên nồng độ yếu tố đông máu nội tại: thể nặng khi hoạt tính yếu tố dưới 1% với xuất huyết tự phát thường xuyên; thể trung bình khi hoạt tính từ 1% đến 5% biểu hiện chảy máu sau chấn thương nhẹ; và thể nhẹ khi hoạt tính từ trên 5% đến dưới 40% thường chỉ chảy máu kéo dài khi phẫu thuật hoặc chấn thương lớn. Bệnh Von Willebrand là bệnh lý chảy máu di truyền phổ biến do suy giảm nồng độ hoặc chức năng yếu tố von Willebrand.
  • Rối loạn đông máu mắc phải: Hội chứng đông máu nội mạch rải rác (DIC) là tình trạng cấp cứu do hoạt hóa ồ ạt dòng thác đông máu trong lòng mạch từ nhiễm trùng huyết, đa chấn thương hoặc biến chứng sản khoa, dẫn đến tiêu thụ cạn kiệt các yếu tố đông máu và tiểu cầu, gây xuất huyết nghiêm trọng đồng thời tắc nghẽn vi tuần hoàn. Bệnh huyết khối tắc mạch (huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi) phát sinh do tổn thương nội mạc, ứ trệ tuần hoàn hoặc tình trạng tăng đông mắc phải.

Bảng phân loại chi tiết các bệnh huyết học điển hình

Bảng dưới đây tổng hợp các bệnh lý huyết học đại diện theo từng dòng tế bào, nêu bật các triệu chứng lâm sàng cốt lõi và tiêu chuẩn xét nghiệm cận lâm sàng xác định:

Dòng tế bào / Cơ chế Bệnh lý điển hình Triệu chứng then chốt Xét nghiệm chẩn đoán xác định
Dòng hồng cầu Thiếu máu thiếu sắt Da xanh, niêm mạc nhợt, hoa mắt, móng tay bẹt dễ gãy, rụng tóc Ferritin huyết thanh giảm, MCV dưới 80 fL, hồng cầu nhỏ nhược sắc trên lam máu
Dòng hồng cầu Thalassemia (tan máu bẩm sinh) Vàng da, lách to, biến dạng xương mặt sọ, chậm phát triển thể chất Điện di huyết sắc tố phát hiện bất thường HbA2 hoặc HbF, phân tích đột biến gen globin
Dòng bạch cầu Bạch cầu cấp (AML / ALL) Sốt cao nhiễm trùng, xuất huyết da niêm mạc, đau nhức xương, suy kiệt nhanh Tủy đồ có tỷ lệ blast từ 20% trở lên (theo WHO 2022 / Khoury và cs.), đo dòng chảy tế bào
Dòng bạch cầu Bạch cầu mạn dòng tủy (CML) Lách to độ lớn chèn ép bụng, sụt cân, mệt mỏi kéo dài, số lượng bạch cầu tăng vọt Phát hiện nhiễm sắc thể Philadelphia t(9;22), xét nghiệm RT-PCR định lượng gen BCR-ABL1
Tương bào Đa u tủy xương Đau cột sống và xương sườn, gãy xương bệnh lý, thiếu máu, suy thận mạn Tỷ lệ tương bào tủy từ 10% trở lên, điện di protein huyết thanh phát hiện đỉnh đơn dòng M
Tiểu cầu Xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch (ITP) Chấm xuất huyết, ban bầm tím tự phát dưới da, chảy máu chân răng, rong kinh Tiểu cầu máu ngoại vi giảm đơn độc, tủy đồ bình thường hoặc tăng sinh mẫu tiểu cầu
Yếu tố đông máu Hemophilia (A / B) Chảy máu khó cầm, tràn máu tái diễn trong bao hoạt dịch khớp gây dính khớp Thời gian aPTT kéo dài, định lượng hoạt tính yếu tố VIII hoặc IX giảm theo các ngưỡng

Phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng trong huyết học

Chẩn đoán các bệnh huyết học đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa triệu chứng lâm sàng và hệ thống thăm dò cận lâm sàng đa tầng từ mức độ hình thái tế bào học đến sinh học phân tử.

1. Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (CBC) và phết lam máu:

Xét nghiệm tế bào máu bằng máy đếm tự động cung cấp các thông số định lượng nền tảng. Theo tài liệu Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý huyết học của Bộ Y tế Việt Nam ban hành kèm Quyết định số 1832/QĐ-BYT năm 2022, tiêu chuẩn chẩn đoán xác định thiếu máu là khi nồng độ hemoglobin giảm dưới 130 g/L ở nam giới trưởng thành, dưới 120 g/L ở nữ giới trưởng thành không mang thai và dưới 110 g/L ở phụ nữ có thai.

Chỉ số thể tích trung bình hồng cầu (MCV) là chìa khóa định hướng nguyên nhân thiếu máu: giá trị MCV dưới 80 fL xác định thiếu máu hồng cầu nhỏ (gặp trong thiếu sắt, thalassemia), từ 80 đến 100 fL xác định thiếu máu đẳng bào (mất máu cấp, suy tủy, tan máu), và trên 100 fL xác định thiếu máu hồng cầu to (thiếu vitamin B12, acid folic, loạn sinh tủy). Khoảng tham chiếu sinh lý của số lượng tiểu cầu là từ 150 đến 450 x 10^9/L; khi số lượng tiểu cầu giảm xuống dưới 50 x 10^9/L, nguy cơ chảy máu tự phát khi va chạm hoặc can thiệp thủ thuật tăng lên rõ rệt. Phết lam máu ngoại vi nhuộm Giemsa cho phép quan sát trực tiếp hình thái hồng cầu (hồng cầu hình cầu, hình giọt nước, hình bia), tế bào bạch cầu bất thường và mảnh vỡ hồng cầu.

2. Xét nghiệm tủy xương (tủy đồ và sinh thiết tủy):

Chọc hút tủy xương làm tiêu bản tủy đồ (bone marrow aspirate) đánh giá chi tiết tỷ lệ phần trăm các dòng tế bào, hình thái tế bào non blast và các dấu hiệu loạn sản tế bào máu. Sinh thiết tủy xương (trephine biopsy) lấy một mẩu mô tủy đặc để bảo tồn nguyên vẹn cấu trúc mô học, cung cấp thông tin không thể thay thế về mật độ tế bào tủy toàn thể (cellularity), tình trạng xơ hóa tủy và sự xâm lấn của các tế bào u ác tính.

3. Đo dòng chảy tế bào (Flow cytometry - Immunophenotyping):

Kỹ thuật sử dụng kháng thể đơn dòng gắn huỳnh quang đặc hiệu với các dấu ấn bề mặt và trong bào tương (cụm biệt hóa CD). Phương pháp này đóng vai trò quyết định trong việc phân loại chính xác bạch cầu cấp dòng tủy, dòng lympho B hoặc dòng lympho T, đồng thời theo dõi tồn lưu bệnh tối thiểu (minimal residual disease, MRD) với độ nhạy phát hiện một tế bào ác tính trong hàng chục nghìn tế bào lành tính.

4. Di truyền tế bào và sinh học phân tử:

Phân tích nhiễm sắc thể (karyotyping) và kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) phát hiện các bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể đặc trưng như chuyển đoạn t(9;22) trong bệnh bạch cầu mạn dòng tủy. Kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase (PCR, RT-PCR) và giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) cho phép định danh chính xác các đột biến gen điểm định hướng điều trị như gen JAK2, FLT3, NPM1 và TP53.

5. Thăm dò chức năng cầm - đông máu chuyên sâu:

Bao gồm xét nghiệm thời gian prothrombin (PT/INR) khảo sát con đường đông máu ngoại sinh, thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (aPTT) khảo sát con đường đông máu nội sinh, định lượng nồng độ fibrinogen và xét nghiệm sản phẩm thoái giáng D-dimer. Khi phát hiện bất thường, các xét nghiệm định lượng hoạt tính yếu tố đông máu riêng lẻ và đo độ kết tập tiểu cầu được chỉ định để xác định chính xác vị trí khiếm khuyết.

Các tiến bộ trong điều trị bệnh huyết học

Chuyên ngành huyết học lâm sàng đã chứng kiến những bước phát triển vượt bậc trong vài thập kỷ qua, chuyển dịch từ hóa trị liệu độc tế bào thông thường sang các liệu pháp miễn dịch và tế bào nhắm trúng cơ chế sinh học phân tử:

  • Ghép tế bào gốc tạo máu (HSCT): Ghép tế bào gốc tự thân (autologous) sử dụng chính tế bào gốc của người bệnh thu thập trước để giải cứu tủy xương sau hóa trị liều cao, áp dụng tiêu chuẩn trong điều trị đa u tủy xương và u lympho tái phát. Ghép tế bào gốc đồng loại (allogeneic) từ người hiến phù hợp kháng nguyên bạch cầu mang lại hiệu ứng miễn dịch ghép chống khối u (graft-versus-tumor effect), là phương pháp điều trị triệt căn duy nhất hiện nay cho nhiều thể bạch cầu cấp nguy cơ cao, suy tủy xương vô căn nặng và thalassemia thể nặng.
  • Liệu pháp phân tử nhắm trúng đích (targeted therapy): Sự ra đời của các thuốc ức chế Tyrosine Kinase (TKI) nhắm trúng oncoprotein BCR-ABL1 đã biến bệnh bạch cầu mạn dòng tủy từ một căn bệnh ung thư tử vong thành bệnh mạn tính có thể kiểm soát hoàn toàn với tuổi thọ gần như người bình thường. Các thuốc ức chế con đường truyền tín hiệu sinh tồn tế bào như thuốc ức chế Bruton Tyrosine Kinase và thuốc ức chế BCL-2 đã tạo ra bước tiến lớn trong điều trị bạch cầu mạn dòng lympho. Kháng thể đơn dòng nhắm các kháng nguyên đặc hiệu bề mặt giúp tiêu diệt chọn lọc tế bào ác tính mà ít gây tổn hại mô lành.
  • Liệu pháp miễn dịch tế bào CAR-T (Chimeric Antigen Receptor T-cell): Tế bào lympho T của chính người bệnh được thu thập và chỉnh sửa gen để biểu hiện thụ thể kháng nguyên khảm đặc hiệu, nhận diện và tiêu diệt trực tiếp các tế bào ác tính. Theo công bố khoa học của June và cs. (2018) trên tạp chí Science, liệu pháp tế bào CAR-T đã đem lại tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn rất ấn tượng ở những bệnh nhân bạch cầu cấp dòng lympho và u lympho tế bào B kháng trị nặng nề với mọi phác đồ trước đó.
  • Liệu pháp gen và chế phẩm sinh học thế hệ mới: Công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR-Cas9 mở ra triển vọng chữa khỏi hoàn toàn bệnh beta-thalassemia và hồng cầu hình liềm nhờ khả năng tái kích hoạt biểu hiện hemoglobin thai nhi. Trong điều trị Hemophilia, các yếu tố đông máu tái tổ hợp tác dụng kéo dài và kháng thể đặc hiệu kép mô phỏng yếu tố đông máu giúp giảm thiểu tần suất tiêm truyền, nâng cao toàn diện chất lượng sống của người bệnh.

Dịch tễ học và gánh nặng bệnh lý tại Việt Nam

Tại Việt Nam, mô hình bệnh tật huyết học mang cả gánh nặng của các bệnh lý di truyền bẩm sinh lẫn các bệnh lý ác tính hệ tạo máu đang có xu hướng gia tăng theo già hóa dân số.

Bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh) là một trong những thách thức y tế công cộng lớn nhất tại Việt Nam. Theo nghiên cứu tổng quan dịch tễ học của Bach và cs. (2022) trên tạp chí Hemoglobin, tỷ lệ người mang gen bệnh Thalassemia trên toàn quốc ước tính chiếm 13,8% dân số, tương đương hơn 13 triệu người mang gen dị hợp tử không có biểu hiện lâm sàng rõ rệt. Tỷ lệ này cao vượt trội so với mức trung bình 1,5% của thế giới. Bệnh phân bố rộng khắp trên cả nước nhưng có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng miền và nhóm dân tộc: tỷ lệ mang gen ở người Kinh là 9,8%, trong khi ở một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ này lên tới từ 30% đến 40%.

Về gánh nặng lâm sàng, các số liệu dịch tễ công bố năm 2022 ước tính mỗi năm có khoảng 8000 trẻ em sinh ra mang gen bệnh Thalassemia tại Việt Nam, trong đó có khoảng 2000 trẻ mắc bệnh thể nặng cần can thiệp y tế suốt đời. Cả nước hiện có hơn 20000 người bệnh thể nặng đang được quản lý và điều trị thường xuyên tại các trung tâm huyết học. Nhu cầu truyền máu định kỳ kết hợp thuốc thải sắt liên tục không chỉ tạo áp lực khổng lồ lên hệ thống cung ứng máu an toàn mà còn là gánh nặng tài chính nặng nề cho bảo hiểm y tế và gia đình người bệnh.

Để chuẩn hóa toàn diện công tác quản lý, chẩn đoán và điều trị bệnh máu trên quy mô cả nước, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1832/QĐ-BYT vào ngày 1 tháng 7 năm 2022 phê duyệt tài liệu chuyên môn Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý huyết học. Văn bản này bao gồm 49 bài hướng dẫn thực hành lâm sàng chi tiết, cập nhật các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất vào phác đồ điều trị thường quy từ tuyến trung ương đến địa phương, góp phần giảm thiểu tỷ lệ tử vong và cải thiện rõ rệt tiên lượng cho người bệnh huyết học tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Các bệnh huyết học thường gặp nhất là những bệnh nào?

Các bệnh huyết học phổ biến nhất bao gồm các thể thiếu máu (đặc biệt là thiếu máu thiếu sắt và bệnh tan máu bẩm sinh Thalassemia), các rối loạn xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch và các bệnh lý ác tính hệ tạo máu như bạch cầu cấp và u lympho. Tùy thuộc vào dòng tế bào bị tổn thương, người bệnh có thể biểu hiện hội chứng thiếu máu, hội chứng xuất huyết hoặc hội chứng nhiễm trùng tái diễn.

Xét nghiệm nào là cơ bản nhất để phát hiện các bệnh huyết học?

Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi bằng máy đếm tự động (CBC) kết hợp soi lam máu ngoại vi là xét nghiệm đầu tay và quan trọng nhất. Xét nghiệm này cung cấp số lượng, kích thước và tỷ lệ các dòng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu, từ đó giúp bác sĩ định hướng nguyên nhân và chỉ định thêm các xét nghiệm tủy đồ, đo dòng chảy tế bào hoặc sinh học phân tử khi cần thiết.

Bệnh Thalassemia có chữa khỏi hoàn toàn được không?

Ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại từ người hiến phù hợp kháng nguyên bạch cầu (HLA) hiện là phương pháp điều trị triệt căn đã được chứng minh trên lâm sàng cho người bệnh Thalassemia thể nặng. Ngoài ra, các liệu pháp chỉnh sửa gen thế hệ mới đang mở ra cơ hội phục hồi sản xuất hemoglobin chức năng mà không cần phụ thuộc vào nguồn tủy người hiến.

Sự khác biệt giữa bạch cầu cấp và bạch cầu mạn là gì?

Bạch cầu cấp đặc trưng bởi sự tích tụ ồ ạt của các tế bào non chưa biệt hóa (tế bào blast) trong tủy xương làm đình trệ quá trình sinh máu lành tính, tiến triển nhanh và đòi hỏi hóa trị hoặc ghép tủy cấp cứu. Ngược lại, bạch cầu mạn đặc trưng bởi sự tăng sinh chậm của các tế bào đã biệt hóa hoàn chỉnh hơn, tiến triển âm thầm qua nhiều năm và hiện nay có thể kiểm soát hiệu quả bằng các thuốc nhắm trúng đích phân tử đường uống.

Tài liệu tham khảo

  1. Khoury, J. D., Solary, E., Abla, O., Akkari, Y., Alaggio, R., Apperley, J. F., Bejar, R., Berti, E., Busque, L., Chan, J. K. C., Chen, W., Chen, X., Chng, W. J., Choi, J. K., Colmenero, I., Coupland, S. E., Cross, N. C. P., De Jong, D., Elghetany, M. T., Takahashi, E., Emile, J. F., Ferry, J., Fogelstrand, L., Fontenay, M., Germing, U., Gujral, S., Haferlach, T., Harrison, C., Hodge, J. C., Hu, S., Jansen, J. H., Kanagal-Shamanna, R., Kantarjian, H. M., Kratz, C. P., Li, X. Q., Lim, M. S., Loeb, K., Loghavi, S., Marcogliese, A., Meshinchi, S., Michaels, P., Naresh, K. N., Natkunam, Y., Nejati, R., Ott, G., Padron, E., Patel, K. P., Patkar, N., Picarsic, J., Platzbecker, U., Roberts, I., Schuh, A., Sewell, W., Siebert, R., Tembhare, P., Tyner, J., Verstovsek, S., Wang, W., Wood, B., Xiao, W., Yeung, C., & Hochhaus, A. (2022). The 5th edition of the World Health Organization Classification of Haematolymphoid Tumours: Myeloid and Histiocytic/Dendritic Neoplasms. Leukemia, 36(7), 1703–1719. DOI: 10.1038/s41375-022-01613-1
  2. Bộ Y tế (2022). Quyết định số 1832/QĐ-BYT ngày 01/07/2022 về việc ban hành tài liệu chuyên môn Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý huyết học. Bộ Y tế Việt Nam. Nguồn
  3. Bach, Q. K., Nguyen, T. T. H., Nguyen, H. T., Nguyen, T. H., & Nguyen, T. M. (2022). Thalassemia in Viet Nam. Hemoglobin, 46(3), 137–142. DOI: 10.1080/03630269.2022.2069032
  4. Srivastava, A., Santagostino, E., Dougall, A., Kitchen, S., Sutherland, M., Pipe, S. W., Carcao, M., Mahlangu, J., Ragni, M. V., Windyga, J., Llinás, A., Goddard, N. J., Mohan, R., Poonnoose, P. M., Feldman, B. M., Lewis, S. Z., van den Berg, H. M., & Pierce, G. F. (2020). WFH Guidelines for the Management of Hemophilia, 3rd edition. Haemophilia, 26(S6), 1–158. DOI: 10.1111/hae.14046
  5. Khwaja, A., Bjorkholm, M., Gale, R. E., Levine, R. L., Jordan, C. T., Ehninger, G., Bloomfield, C. D., Estey, E., Burnett, A., Cornelissen, J. J., Scheinberg, D. A., Bouscary, D., & Linch, D. C. (2016). Acute myeloid leukaemia. Nature Reviews Disease Primers, 2, 16010. DOI: 10.1038/nrdp.2016.10
  6. June, C. H., O'Connor, R. S., Kawalekar, O. U., Ghassemi, S., & Milone, M. C. (2018). CAR T cell immunotherapy for human cancer. Science, 359(6382), 1361–1365. DOI: 10.1126/science.aar6711