Từ điển học thuật

Viêm gan vi rút b mạn là gì? Các công bố khoa học về Viêm gan vi rút b mạn

Viêm gan vi rút B mãn là một bệnh viêm gan do virus vi rút B (HBV) gây ra. Viêm gan B mãn có thể là một bệnh trầm trọng và kéo dài, dẫn đến viêm gan mãn tính, x...

352 lượt xem Cập nhật 12/9/2026

Viêm gan vi rút B mãn là một bệnh viêm gan do virus vi rút B (HBV) gây ra. Viêm gan B mãn có thể là một bệnh trầm trọng và kéo dài, dẫn đến viêm gan mãn tính, xơ gan và ung thư gan. Bệnh được truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc với máu, chất nhầy hoặc dịch sinh dục của người bị nhiễm virus HBV, chẳng hạn như quan hệ tình dục không an toàn, tiêm chích ma túy chung, hoặc chuyển máu không kiểm dịch. Triệu chứng của viêm gan B mãn có thể gồm mệt mỏi, giảm khả năng lao động, sự không thoải mái trong vùng bụng, buồn nôn, nôn mửa, mệt mỏi hơn bình thường, và màu da và màu niêm mạc của mắt và da trở thành vàng (bệnh vàng da).
Viêm gan vi rút B mãn (HBV) là một loại viêm gan mãn tính, do vi rút gan B gây ra. HBV là một vi rút lây qua tiếp xúc với máu, dịch cơ thể hoặc chất nhầy của người bị nhiễm HBV. Các hình thức lây truyền chính của HBV bao gồm:

1. Quan hệ tình dục không an toàn: Một trong những phương thức chính để lây nhiễm HBV là thông qua quan hệ tình dục không an toàn, đặc biệt là khi có tiếp xúc với máu, chất nhầy hoặc dịch vi rút trong tình dục.

2. Tiếp xúc với máu nhiễm HBV: Tiếp xúc với máu nhiễm vi rút, như thông qua chia sẻ kim tiêm hoặc các dụng cụ tiêm chích, là một nguy cơ cao để lây nhiễm HBV. Điều này bao gồm cả việc sử dụng chung các dụng cụ cạo râu, đồ điều trị cá nhân và các dụng cụ làm đẹp không được vệ sinh đúng cách.

3. Chuyển máu không kiểm dịch: Trước khi quy trình kiểm dịch hiện đại được áp dụng rộng rãi, làn da dữ dội từ việc tiêm chủng, chuyển máu hoặc phẫu thuật có thể dẫn đến viêm gan B mãn.

Một số triệu chứng phổ biến của viêm gan B mãn bao gồm:
- Mệt mỏi và suy giảm sức khỏe chung
- Giảm khả năng lao động và sự không thoải mái trong vùng bụng
- Buồn nôn, nôn mửa
- Cảm giác mệt mỏi hơn so với bình thường
- Da và niêm mạc mắt trở thành màu vàng (bệnh vàng da)

Nếu không được điều trị, viêm gan B mãn có thể gây ra những tác động nghiêm trọng cho gan, bao gồm sẹo gan (xơ gan) và ung thư gan. Tuy nhiên, viêm gan B mãn có thể điều trị và quản lý thông qua các biện pháp như tiêm vắc-xin, thuốc kháng virus và chăm sóc cơ bản. Điều quan trọng là kiên nhẫn và tuân thủ điều trị dài hạn để kiểm soát viêm gan và ngăn chặn các biến chứng tiềm ẩn.

Các nghiên cứu khoa học về “viêm gan vi rút b mạn”

Công bố nổi bật trên thế giới và tại Việt Nam, kèm tóm tắt theo hướng chủ đề.

Mới nhất

Trích dẫn nhiều nhất

  • Kết quả lâm sàng của viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính liên quan đến phản ứng vi rút đối với lamivudine

    Dịch bởi AIClinical outcome of HBeAg-negative chronic hepatitis B in relation to virological response to lamivudine

    V. Di Marco và cộng sự2004Hepatology258 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Nghiên cứu đa trung tâm hồi cứu trên 656 bệnh nhân viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính đánh giá hiệu quả của lamivudine. Sau trung bình 22 tháng điều trị, 93,9% người bệnh đạt đáp ứng vi rút nhưng tỷ lệ duy trì sau 4 năm chỉ còn 39%. Duy trì ức chế vi rút ở người xơ gan giúp giảm rõ rệt biến chứng ung thư gan. Tác giả nhận định bùng phát vi rút làm tăng tử vong, dù kháng thuốc tích lũy là hạn chế lớn.

  • THAY ĐỔI GIÁ TRỊ qHBsAg Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN VI RÚT B MẠN KHI ĐIỀU TRỊ BẰNG TENOFOVIR DISOPROXIL FUMARATE HOẶC TENOFOVIR ALAFENAMIDE

    Ngọc Diễm Võ và cộng sự2021Tạp chí Y học Việt Nam0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Quan sát cắt ngang mô tả trên 250 bệnh nhân viêm gan B mạn so sánh thay đổi qHBsAg khi dùng tenofovir disoproxil fumarate (TDF) hoặc tenofovir alafenamide (TAF). Nồng độ qHBsAg ban đầu ở nhóm TDF là 3,0 ± 0,8 và nhóm TAF là 2,7 ± 0,9 log10 UI/mL (p = 0,02). Sau 24 tuần, chỉ số này giảm có ý nghĩa ở nhóm TDF (p = 0,02) nhưng không đổi ở nhóm TAF (p = 0,4). Tác giả nhận định TDF làm giảm qHBsAg tốt hơn TAF, dù cần theo dõi dài hạn hơn.

  • ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHUYỂN ĐỔI HUYẾT THANH CỦA TENOFOVIR DISOPROXIL FUMARATE VÀ TENOFOVIR ALAFENAMIDE Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN VI RÚT B MẠN

    Ngọc Diễm Võ và cộng sự2021Tạp chí Y học Việt Nam0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Khảo sát cắt ngang mô tả trên 111 bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn có HBeAg dương tính nhằm so sánh hiệu quả giữa TAF (37 ca) và TDF (74 ca). Sau 48 tuần, tỷ lệ mất HBeAg ở nhóm TAF và TDF lần lượt là 13,51% và 14,86%, tỷ lệ đạt HBV DNA âm tính là 67,00% so với 58,10% (p = 0,33). Tác giả ghi nhận hiệu quả kháng vi rút tương đương nhau ở người bệnh viêm gan B mạn, dù cỡ mẫu theo dõi còn nhỏ.

  • NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TẢI LƯỢNG HBV DNA VÀ HOẠT ĐỘ ENZYM ALT Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN VI RÚT B MẠN TÍNH

    Văn Nam Lê và cộng sự2021Tạp chí Y học Việt Nam0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Đánh giá cắt ngang hồi cứu trên 39 bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn tính khảo sát tương quan giữa HBV DNA và men gan ALT. Tải lượng HBV DNA trung bình đạt 1,2 × 10⁸ ± 0,7 × 10⁷ copies/mL và hoạt độ ALT là 561,94 ± 207,19 U/L. Kết quả chưa ghi nhận tương quan có ý nghĩa thống kê (r = -0,12; p = 0,46). Tác giả nhận định tải lượng vi rút không phản ánh mức độ hủy hoại tế bào gan, dù cỡ mẫu còn hạn chế.

  • KHẢO SÁT TÁC ĐỘNG CỦA TENOFOVIR DISOPROXIL FUMARATE LÊN CHỨC NĂNG THẬN Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN VI RÚT B MẠN

    Ngọc Diễm Võ và cộng sự2021Tạp chí Y học Việt Nam0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Theo dõi cắt ngang mô tả trên 60 bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn điều trị ngoại trú với tenofovir disoproxil fumarate (TDF) nhằm đánh giá chức năng thận. Nồng độ creatinine huyết thanh tăng có ý nghĩa ở tuần 24 và 48 (p < 0,01). Đồng thời, độ lọc cầu thận ước tính eGFR sụt giảm rõ rệt tại cả hai thời điểm (p < 0,05). Tác giả khuyến cáo cần kiểm tra định kỳ chức năng thận khi dùng TDF, dù cỡ mẫu còn khiêm tốn.

Nổi bật tại Việt Nam

Mới nhất tại Việt Nam