Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (tiếng Anh: Non-Small Cell Lung Cancer, viết tắt là NSCLC) là nhóm bệnh lý ác tính nguyên phát phổ biến nhất của phế quản và phổi, chiếm phần lớn các ca chẩn đoán ung thư phổi trên lâm sàng. Khái niệm này bao gồm tập hợp các thể ung thư biểu mô có đặc điểm hình thái và hành vi sinh học khác biệt rõ rệt so với ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC).
Nhờ những tiến bộ vượt bậc của sinh học phân tử và giải phẫu bệnh, việc điều trị NSCLC đã chuyển dịch sâu sắc từ phác đồ hóa chất độc tế bào kinh điển sang kỷ nguyên y học chính xác, tích hợp các liệu pháp nhắm trúng đích phân tử và ức chế điểm kiểm soát miễn dịch.
Phân loại mô bệnh học và dấu ấn phân tử
Dựa trên đặc điểm vi thể và nhuộm hóa mô miễn dịch, NSCLC được phân loại thành ba nhóm mô học chủ đạo:
- Ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma): Thể mô học thường gặp nhất, xuất phát từ các tế bào phế nang ngoại vi tiết chất nhầy. Phân nhóm này có tỷ lệ mang các đột biến gen đích kích hoạt cao nhất như thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì EGFR hoặc dung hợp ALK.
- Ung thư biểu mô vảy (squamous cell carcinoma): Xuất phát chủ yếu từ biểu mô lát tầng đường dẫn khí trung tâm phế quản lớn, có liên quan mật thiết và trực tiếp với tiền sử hút thuốc lá lâu năm.
- Ung thư tế bào lớn (large cell carcinoma): Thể u ác tính kém biệt hóa, tăng sinh nhanh và không mang các dấu hiệu vi thể điển hình của tuyến hay vảy.
| Phân nhóm mô học | Vị trí tổn thương điển hình | Đặc trưng sinh học phân tử |
|---|---|---|
| Biểu mô tuyến | Ngoại vi nhu mô phổi | Thường liên quan đột biến EGFR, sắp xếp lại ALK hoặc ROS |
| Biểu mô vảy | Trung tâm phế quản, gần rốn phổi | Liên quan đến khói thuốc, ít gặp đột biến kích hoạt nhạy thuốc |
| Tế bào lớn | Vị trí phân bố phân tán | Mô học kém biệt hóa, tiến triển xâm lấn nhanh |
Những nghiên cứu lâm sàng mang tính bước ngoặt
Chiến lược can thiệp đối với ung thư phổi không phải tế bào nhỏ đã trải qua nhiều cuộc cách mạng học thuật lớn:
Năm 2004, Thomas Lynch và các cộng sự công bố phát hiện trên The New England Journal of Medicine chứng minh rằng các đột biến kích hoạt đặc hiệu trên miền tyrosine kinase của thụ thể EGFR chính là cơ sở phân tử quyết định độ nhạy cảm lâm sàng ngoạn mục với thuốc ức chế trúng đích gefitinib, chính thức mở ra kỷ nguyên điều trị nhắm đích trong ung bướu lồng ngực.
Năm 2016, Martin Reck và các cộng sự báo cáo kết quả thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên giai đoạn ba KEYNOTE trên The New England Journal of Medicine. Công trình xác lập rằng liệu pháp kháng thể ức chế thụ thể PD-1 pembrolizumab vượt trội có ý nghĩa so với hóa trị chuẩn về cả thời gian sống thêm không bệnh tiến triển lẫn tỷ lệ sống còn toàn bộ ở nhóm bệnh nhân có biểu hiện dấu ấn miễn dịch cao.
Năm 2018, Jean-Charles Soria và nhóm nghiên cứu FLAURA công bố trên The New England Journal of Medicine bằng chứng cho thấy thuốc ức chế EGFR thế hệ mới osimertinib đem lại hiệu quả kiểm soát u và cải thiện thời gian sống còn không tiến triển vượt bậc so với các thuốc ức chế thế hệ trước, đồng thời kiểm soát tối ưu các tổn thương di căn hệ thần kinh trung ương.
Quy trình chẩn đoán giai đoạn và tiếp cận điều trị
Chẩn đoán giai đoạn NSCLC tuân theo hệ thống phân loại TNM (khối u nguyên phát, hạch vùng và di căn xa) thông qua chụp cắt lớp vi tính lồng ngực, cắt lớp phát xạ positron PET-CT và nội soi phế quản siêu âm sinh thiết hạch trung thất:
- Giai đoạn khu trú sớm: Phẫu thuật cắt thùy phổi nạo vét hạch triệt căn là phương pháp điều trị nền tảng ưu tiên, có thể kết hợp điều trị bổ trợ toàn thân.
- Giai đoạn tiến triển tại chỗ: Điều trị đa mô thức phối hợp hóa trị và xạ trị đồng thời, tiếp nối bằng liệu pháp củng cố miễn dịch nhằm ngăn ngừa tái phát.
- Giai đoạn di căn toàn thân: Chỉ định điều trị dựa hoàn toàn vào kết quả giải trình tự gen tìm đột biến đích có thể can thiệp được hoặc định lượng biểu hiện thụ thể miễn dịch PD-L1 để lựa chọn thuốc sinh học thích hợp.