Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Tổn thương não thứ phát là gì? Cơ chế và xử trí

Tiếng Anhsecondary brain injury

Tên gọi kháctổn thương não thứ phát sau chấn thươngtổn thương não thứ phát sau đột quỵ

Tổn thương não thứ phát là chuỗi biến đổi bệnh lý tiến triển và lan rộng xảy ra tiếp sau tổn thương não nguyên phát ban đầu, phát triển trong nhiều giờ, nhiều ngày hoặc nhiều tuần do các rối loạn tế bào, phân tử, huyết động học và chuyển hóa mô não.

Cập nhật 31/8/2026

Tổn thương não thứ phát là chuỗi biến đổi bệnh lý tiến triển và lan rộng xảy ra tiếp sau tổn thương não nguyên phát ban đầu, phát triển trong nhiều giờ, nhiều ngày hoặc nhiều tuần do các rối loạn tế bào, phân tử, huyết động học và chuyển hóa mô não. Không giống như tổn thương nguyên phát phát sinh ngay tại thời điểm chấn thương cơ học hoặc biến cố mạch máu cấp tính, tổn thương não thứ phát là quá trình động có thể phòng ngừa, kiểm soát và can thiệp điều trị y khoa nhằm hạn chế tối đa sự mất mát nơ-ron và bảo tồn chức năng thần kinh.

Khái niệm và bản chất sinh bệnh học

Trong bệnh lý học thần kinh và hồi sức cấp cứu, tổn thương hệ thần kinh trung ương luôn được phân định rõ thành hai giai đoạn kế tiếp nhau:

  • Tổn thương nguyên phát: Là tổn thương cấu trúc xảy ra ngay tức thì tại thời điểm tác động cơ học hoặc biến cố mạch máu, bao gồm rách mô não, đụng dập nhu mô, đứt sợi trục thần kinh do lực xé rách, vỡ mạch máu não gây xuất huyết trong sọ, hoặc tắc nghẽn mạch máu đột ngột gây hoại tử mô tại vùng lõi nhồi máu. Tổn thương này mang tính cơ học tức thời và không thể đảo ngược bằng các can thiệp nội khoa hồi sức sau đó.
  • Tổn thương thứ phát: Là toàn bộ các quá trình thoái hóa tế bào thần kinh, rối loạn vi tuần hoàn, thiếu máu cục bộ lan rộng, phù não, tăng áp lực nội sọ và suy thoái chức năng thần kinh phát triển tiếp diễn sau tổn thương ban đầu. Đây là hệ quả của sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố tổn thương tại chỗ trong nội sọ và các biến loạn sinh lý toàn thân.

Bản chất của tổn thương thứ phát là sự lan rộng vùng tổn thương từ lõi mô hoại tử ban đầu sang vùng tranh tối tranh sáng (penumbra) xung quanh, nơi các tế bào nơ-ron còn sống sót nhưng rơi vào trạng thái suy giảm năng lượng nghiêm trọng và dễ bị tổn thương trước mọi biến động huyết động và chuyển hóa.

Theo báo cáo của Ủy hội Chấn thương sọ não Lancet Neurology do Maas và cs. (2022) công bố, mỗi năm toàn cầu có khoảng 50 triệu đến 60 triệu người bị chấn thương sọ não mới, trong đó phần lớn các di chứng tàn phế và tử vong kéo dài xuất phát từ sự tiến triển của tổn thương não thứ phát.

Chuỗi cơ chế bệnh sinh ở mức độ tế bào và phân tử

Theo tổng quan sinh lý bệnh học của Ng và Lee (2019), tổn thương não thứ phát không xuất phát từ một cơ chế đơn lẻ mà được kích hoạt bởi một thác bệnh lý liên hoàn gồm nhiều mắt xích tế bào và phân tử tương tác qua lại mật thiết:

1. Độc tế bào do kích thích và quá tải canxi nội bào

Khi mô não bị tổn thương nguyên phát, lưu lượng máu nuôi giảm mạnh dẫn tới thiếu hụt oxy và glucose tế bào. Tình trạng này làm suy sụp nồng độ adenosine triphosphate (ATP), khiến các bơm ion phụ thuộc năng lượng trên màng tế bào, đặc biệt là bơm Na+/K+-ATPase, bị tê liệt. Hậu quả là màng nơ-ron bị khử cực liên tục, kích thích sự giải phóng ồ ạt chất dẫn truyền thần kinh kích thích glutamate vào khe synapse trong khi cơ chế tái hấp thu glutamate của tế bào hình sao (astrocytes) bị bất hoạt.

Nồng độ glutamate ngoại bào tăng cao làm hoạt hóa quá mức các thụ thể glutamate ionotropic, chủ yếu là thụ thể NMDA (N-methyl-D-aspartate) và AMPA (alpha-amino-3-hydroxy-5-methyl-4-isoxazolepropionic acid). Sự kích hoạt này mở toang các kênh ion, tạo nên một dòng ion canxi (Ca2+\text{Ca}^{2+}) và natri (Na+\text{Na}^+) ồ ạt tràn vào bên trong tế bào chất. Tình trạng quá tải canxi nội bào kích hoạt các enzym thủy phân phá hủy cấu trúc tế bào như calpain, caspase, phospholipase và endonuclease, dẫn đến phân hủy màng tế bào, tiêu hủy protein khung xương tế bào và đứt gãy vật liệu di truyền.

2. Rối loạn chức năng ty thể và stress oxy hóa

Dòng canxi nội bào quá mức thâm nhập vào chất nền ty thể, làm gián đoạn chuỗi truyền điện tử hô hấp tế bào, gây mở lỗ chuyển tiếp thấm tính thấm ty thể (mitochondrial permeability transition pore, mPTP) và làm suy giảm khả năng tổng hợp ATP. Ty thể bị tổn thương trở thành nguồn sản sinh ồ ạt các gốc tự do oxy hóa (reactive oxygen species, ROS) và các gốc nitơ phản ứng (reactive nitrogen species, RNS).

Các gốc tự do này tấn công vào lớp phospholipid kép giàu acid béo không bão hòa của màng tế bào thần kinh, gây ra hiện tượng peroxy hóa lipid màng, biến đổi protein chức năng và ức chế các enzym chống oxy hóa nội sinh, từ đó đẩy nhanh tiến trình hoại tử và chết tế bào theo chương trình (apoptosis).

3. Viêm thần kinh và phá hủy hàng rào máu não

Tổn thương mô và sự hoại tử tế bào giải phóng các phân tử mẫu phân tử liên quan đến tổn thương (damage-associated molecular patterns, DAMPs), nhanh chóng kích hoạt vi tế bào đệm (microglia) và tế bào hình sao cư trú trong nhu mô não. Tế bào đệm được hoạt hóa chuyển sang kiểu hình tiền viêm, chế tiết các cytokine tiền viêm mạnh như TNF-alpha (tumor necrosis factor-alpha), interleukin-1-beta (IL-1β\text{IL-1}\beta) và interleukin-6 (IL-6\text{IL-6}).

Phản ứng viêm thần kinh này kích thích sự biểu hiện của các phân tử kết dính tế bào trên nội mô mạch máu não, thu hút các tế bào miễn dịch lưu hành (bạch cầu trung tính, đại thực bào ngoại vi) xâm nhập qua hàng rào máu não. Đồng thời, các metalloproteinase nền (MMP) được giải phóng sẽ phân giải protein cấu trúc của màng đáy và các liên kết vòng bịt (tight junctions) giữa các tế bào nội mô, dẫn tới phá vỡ tính toàn vẹn của hàng rào máu não và tạo điều kiện cho các phân tử protein huyết tương thấm ồ ạt vào khoang kẽ não.

Phân loại các yếu tố thúc đẩy tổn thương não thứ phát

Theo tổng quan quản lý tổn thương thứ phát của de Macedo Filho và cs. (2024), các yếu tố thúc đẩy tổn thương não thứ phát được phân thành hai nhóm chính:

1. Các yếu tố thứ phát tại chỗ trong sọ

  • Tăng áp lực nội sọ: Sự phát triển của khối máu tụ muộn ngoài màng cứng, dưới màng cứng, trong nhu mô não hoặc phù não làm gia tăng thể tích khối trong hộp sọ kín, đẩy áp lực nội sọ lên cao vượt ngưỡng an toàn.
  • Phù não: Gồm phù độc tế bào (cytotoxic edema do tích tụ nước trong khoang nội bào khi suy bơm ion) và phù do mạch (vasogenic edema do rò rỉ dịch và protein huyết tương vào khoang ngoại bào qua hàng rào máu não bị tổn thương).
  • Thiếu máu cục bộ và giảm tưới máu não: Xảy ra do áp lực tưới máu não sụt giảm, co thắt mạch máu não sau xuất huyết dưới nhện hoặc chấn thương, hoặc hiện tượng tắc nghẽn vi tuần hoàn do kết tập tiểu cầu và phù nề tế bào nội mô.
  • Lan truyền khử cực vỏ não: Các đợt sóng khử cực màng nơ-ron lan tỏa qua vỏ não làm tăng vọt nhu cầu tiêu thụ năng lượng và oxy tại những vùng mô đang bị giảm tưới máu nghiêm trọng.
  • Co giật và động kinh sau chấn thương: Gây gia tăng chuyển hóa não quá mức, làm trầm trọng thêm tình trạng mất cân bằng giữa cung và cầu năng lượng của mô não.

2. Các yếu tố thứ phát toàn thân

  • Tụt huyết áp hệ thống: Làm suy giảm trực tiếp áp lực đẩy máu lên não, đặc biệt nguy hiểm khi cơ chế tự điều hòa mạch máu não đã bị tê liệt sau chấn thương.
  • Thiếu oxy máu: Giảm phân áp oxy máu động mạch làm giảm vận chuyển oxy đến mô não, đẩy nhanh quá trình chuyển hóa kỵ khí sinh acid lactic.
  • Rối loạn phân áp khí carbonic máu (PaCO2\text{PaCO}_2): Tăng PaCO2\text{PaCO}_2 gây giãn mạch não thụ động và làm tăng vọt áp lực nội sọ; ngược lại, hạ PaCO2\text{PaCO}_2 quá mức do tăng thông khí gây co thắt mạch não nặng nề và dẫn đến thiếu máu não cục bộ nghiêm trọng.
  • Sốt và tăng thân nhiệt: Làm tăng chuyển hóa não, kích hoạt sản sinh gốc tự do và thúc đẩy giải phóng các cytokine viêm.
  • Rối loạn đường huyết và điện giải: Cả tăng đường huyết lẫn hạ đường huyết đều gây tổn hại tế bào nơ-ron; hạ natri máu làm nặng thêm tình trạng phù não do chênh lệch áp suất thẩm thấu.

Sinh lý học áp lực tưới máu não và huyết động nội sọ

Hộp sọ của người trưởng thành là một cấu trúc xương cứng có thể tích không đổi. Theo học thuyết Monro-Kellie, tổng thể tích trong hộp sọ gồm ba thành phần chính: nhu mô não, dịch não tủy và thể tích máu nội sọ. Khi một khối bất thường xuất hiện hoặc nhu mô não phù to, áp lực nội sọ sẽ tăng lên nhanh chóng sau khi các cơ chế bù trừ sinh lý (đẩy dịch não tủy xuống khoang tủy sống và xẹp bớt giường tĩnh mạch não) bị cạn kiệt.

Theo Stocchetti và Maas (2014), áp lực tưới máu não (CPP) được xác định bằng hiệu số giữa huyết áp động mạch trung bình (MAP) và áp lực nội sọ (ICP) theo công thức toán học sau:

CPP=MAP−ICP\text{CPP} = \text{MAP} - \text{ICP}

Trong đó:

  • CPP\text{CPP} là áp lực tưới máu não thực tế cung cấp dòng máu nuôi nhu mô não qua mạng lưới mao mạch, tính bằng milimét thủy ngân (mmHg).
  • MAP\text{MAP} là huyết áp động mạch trung bình của hệ tuần hoàn hệ thống, tính bằng milimét thủy ngân (mmHg).
  • ICP\text{ICP} là áp lực đo được bên trong khoang sọ, tính bằng milimét thủy ngân (mmHg).

Huyết áp động mạch trung bình được tính toán từ huyết áp tâm thu (SBP\text{SBP}) và huyết áp tâm trương (DBP\text{DBP}) theo công thức:

MAP=DBP+13(SBP−DBP)\text{MAP} = \text{DBP} + \frac{1}{3} (\text{SBP} - \text{DBP})

Công thức này phản ánh rõ nét mối tương quan sống còn: khi ICP\text{ICP} tăng cao hoặc MAP\text{MAP} sụt giảm, CPP\text{CPP} sẽ giảm mạnh. Nếu CPP\text{CPP} rơi xuống dưới ngưỡng tới hạn, lưu lượng máu não sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu chuyển hóa cơ bản, gây ra thiếu máu não thứ phát lan tỏa và dẫn đến hoại tử tế bào không hồi phục.

Bảng so sánh tổn thương não nguyên phát và tổn thương não thứ phát

Bảng dưới đây tổng hợp các đặc trưng cơ bản giúp phân biệt hai dạng tổn thương trong bệnh lý thần kinh học:

Đặc tính so sánh Tổn thương não nguyên phát Tổn thương não thứ phát
Thời điểm xuất hiện Ngay tức thì tại thời điểm tác động cơ học hoặc biến cố cấp tính Xuất hiện chậm sau nhiều giờ, nhiều ngày hoặc kéo dài nhiều tuần
Bản chất cơ chế Tổn thương cơ học, rách mô, đứt sợi trục, vỡ mạch máu Thác hóa sinh, độc tế bào do kích thích, phù não, viêm, thiếu máu cục bộ
Khả năng can thiệp điều trị Không thể đảo ngược bằng can thiệp y khoa hồi sức Có thể phòng ngừa, ngăn chặn và điều trị can thiệp tích cực
Mục tiêu điều trị Chủ yếu phòng ngừa tai nạn và phẫu thuật cấp cứu giải ép cơ học Hồi sức thần kinh chuyên sâu, tối ưu hóa áp lực nội sọ và tưới máu não
Yếu tố ảnh hưởng chính Động năng va chạm, hướng lực, gia tốc và giảm tốc đột ngột Áp lực nội sọ, huyết áp, oxy máu, thân nhiệt, đường huyết, điện giải

Chiến lược quản lý và phác đồ điều trị theo chuẩn quốc tế

Mục tiêu cốt lõi của hồi sức thần kinh hiện đại là phát hiện sớm và ngăn chặn triệt để tổn thương não thứ phát. Các hiệp hội chuyên khoa quốc tế đã xây dựng các hướng dẫn điều trị dựa trên y học chứng cứ chặt chẽ:

1. Hướng dẫn của Brain Trauma Foundation (BTF)

Theo Hướng dẫn quản lý chấn thương sọ não nặng phiên bản lần thứ 4 của Brain Trauma Foundation do Carney và cs. (2016) công bố, các khuyến cáo thực hành lâm sàng trọng tâm bao gồm:

  • Ngưỡng điều trị áp lực nội sọ: Khuyến cáo can thiệp điều trị khi ICP\text{ICP} vượt trên 22 mmHg, bởi các giá trị áp lực nội sọ trên ngưỡng này liên quan rõ rệt đến sự gia tăng tỷ lệ tử vong và suy giảm kết cục thần kinh.
  • Mục tiêu áp lực tưới máu não: Giá trị CPP\text{CPP} mục tiêu được khuyến cáo duy trì trong khoảng 60 đến 70 mmHg. Hướng dẫn nhấn mạnh việc tránh để CPP\text{CPP} giảm dưới 60 mmHg nhằm ngăn ngừa thiếu máu não cục bộ, đồng thời tránh dùng thuốc vận mạch và truyền dịch quá mức để đẩy CPP\text{CPP} lên trên 70 mmHg do nguy cơ gây tổn thương phổi cấp và hội chứng suy hô hấp tiến triển (ARDS).
  • Khuyến cáo chống chỉ định Corticosteroid: Dựa trên bằng chứng mức 1 từ thử nghiệm lâm sàng CRASH, việc sử dụng corticosteroid (như methylprednisolone liều cao) không được khuyến cáo vì không giúp hạ áp lực nội sọ hay cải thiện kết cục mà còn làm tăng tỷ lệ tử vong.
  • Chỉ định theo dõi áp lực nội sọ: Đặt thiết bị theo dõi ICP liên tục được chỉ định ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng có điểm Glasgow từ 3 đến 8 điểm kèm hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não bất thường.

2. Thuật toán phân tầng bậc thang SIBICC

Theo đồng thuận quốc tế Seattle International Severe Traumatic Brain Injury Consensus Conference (SIBICC) do Hawryluk và cs. (2019) công bố, phác đồ điều trị tăng áp lực nội sọ được phân thành 3 bậc thang can thiệp tuần tự:

  • Các biện pháp chăm sóc nền tảng: Đặt bệnh nhân nằm đầu cao khoảng 30 độ để tạo thuận lợi cho hồi lưu tĩnh mạch cảnh; kiểm soát giảm đau và an thần đầy đủ; duy trì thân nhiệt bình thường (tránh để sốt cao); duy trì thông khí kiểm soát với phân áp carbonic máu bình thường (PaCO2\text{PaCO}_2 trong giới hạn 35 đến 40 mmHg); duy trì huyết áp và nồng độ natri máu bình thường.
  • Bậc 1: Dẫn lưu dịch não tủy ngắt quãng hoặc liên tục qua ống thông não thất ngoài (EVD); sử dụng liệu pháp thẩm thấu ngắt quãng bằng dung dịch Mannitol 20% hoặc dung dịch muối ưu trương (NaCl 3%); tăng mức độ an thần; thực hiện tăng thông khí nhẹ tạm thời (PaCO2\text{PaCO}_2 từ 35 đến 38 mmHg) trong lúc chờ đợi các can thiệp tiếp theo.
  • Bậc 2: Sử dụng thuốc ức chế dẫn truyền thần kinh cơ; điều chỉnh tăng huyết áp động mạch trung bình có kiểm soát để nâng đỡ CPP\text{CPP}; cân nhắc hạ thân nhiệt điều trị có kiểm soát ở mức độ nhẹ.
  • Bậc 3: Áp dụng các biện pháp hồi sức chuyên sâu nguy cơ cao gồm phẫu thuật mở sọ giải áp giải phóng chèn ép nhu mô; gây mê sâu bằng barbiturate liều cao (như thiopental hoặc pentobarbital) để ức chế tối đa chuyển hóa não trên điện não đồ.

Bối cảnh thực hành lâm sàng và hướng dẫn tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chấn thương sọ não và đột quỵ chiếm tỷ lệ cao trong các ca cấp cứu ngoại khoa và nội khoa thần kinh. Nhằm chuẩn hóa quy trình điều trị và nâng cao chất lượng phục hồi chức năng cho người bệnh, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Quyết định 2536/QĐ-BYT năm 2020 phê duyệt tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng cho người bệnh chấn thương sọ não, đột quỵ và bại não.

Tại các trung tâm hồi sức tích cực và phẫu thuật thần kinh tuyến cuối ở Việt Nam, việc triển khai các kỹ thuật theo dõi huyết động học thần kinh chuyên sâu như đặt catheter đo ICP nhu mô hoặc não thất, theo dõi áp lực oxy mô não (PbtO2\text{PbtO}_2) và siêu âm Doppler xuyên sọ đã giúp phát hiện sớm các đợt tăng áp lực nội sọ kịch phát và thiếu oxy não thầm lặng. Việc tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ kiểm soát huyết áp, thông khí bảo vệ phổi và liệu pháp thẩm thấu đã góp phần giảm thiểu tỷ lệ tử vong và giảm bớt gánh nặng di chứng tàn phế cho người bệnh.

Hạn chế và những vấn đề còn mở trong nghiên cứu

Mặc dù sinh lý bệnh của tổn thương não thứ phát đã được nghiên cứu sâu rộng, việc ứng dụng các liệu pháp bảo vệ thần kinh trên lâm sàng vẫn còn nhiều rào cản lớn:

  • Thất bại trong chuyển dịch từ tiền lâm sàng sang lâm sàng: Hàng trăm phân tử thuốc bảo vệ thần kinh từng cho kết quả rất khả quan trên mô hình động vật thực nghiệm (như thuốc đối kháng thụ thể glutamate, chất chống oxy hóa, thuốc chẹn kênh canxi) nhưng đều thất bại trong các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên người. Nguyên nhân chủ yếu do tính không đồng nhất cao của chấn thương sọ não ở người và sự phức tạp của hàng rào máu não.
  • Cá thể hóa mục tiêu huyết động học: Khái niệm áp lực tưới máu não tối ưu cho từng cá thể (CPPopt\text{CPP}_{\text{opt}}) dựa trên việc theo dõi liên tục chỉ số tự điều hòa mạch máu não (PRx) đang là hướng tiếp cận mới, thay thế cho việc áp dụng một khung số cố định cho mọi bệnh nhân.
  • Thiếu hụt chất chỉ điểm sinh học nhạy: Việc phát triển các biomarker huyết thanh phản ánh kịp thời mức độ hoại tử sợi trục và tế bào thần kinh đệm (như GFAP, UCH-L1, NfL) đang được đẩy mạnh nhằm phát hiện tổn thương thứ phát ngay từ giai đoạn sớm trước khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt.

Câu hỏi thường gặp

Tổn thương não thứ phát khác gì so với tổn thương não nguyên phát?

Tổn thương nguyên phát xảy ra tức thì tại thời điểm chấn thương cơ học hoặc mạch máu và không thể đảo ngược bằng nội khoa. Ngược lại, tổn thương não thứ phát phát triển chậm sau nhiều giờ hoặc nhiều ngày do các rối loạn chuyển hóa, phù não và thiếu máu, do đó có thể phòng ngừa và can thiệp điều trị.

Các yếu tố nguy cơ toàn thân nào dễ thúc đẩy tổn thương não thứ phát?

Các yếu tố nguy cơ toàn thân chính bao gồm tụt huyết áp hệ thống, thiếu oxy máu, rối loạn phân áp khí carbonic trong máu, sốt cao kéo dài và rối loạn điện giải như hạ natri máu. Những yếu tố này làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu máu não và phù não.

Tại sao kiểm soát áp lực tưới máu não (CPP) và áp lực nội sọ (ICP) lại có tính chất sống còn?

Áp lực tưới máu não là chênh lệch giữa huyết áp trung bình và áp lực nội sọ (CPP = MAP - ICP). Khi áp lực nội sọ tăng cao hoặc huyết áp tụt, tưới máu não sẽ suy giảm nghiêm trọng dẫn đến thiếu máu não lan tỏa và hoại tử tế bào không hồi phục.

Tại sao các thuốc bảo vệ thần kinh thực nghiệm thường thất bại trên lâm sàng?

Nhiều phân tử thuốc cho hiệu quả tốt trên động vật nhưng thất bại ở thử nghiệm lâm sàng trên người do tính không đồng nhất cao của chấn thương sọ não, sự phức tạp của hàng rào máu não và việc áp dụng điều trị thường chậm hơn cửa sổ can thiệp tối ưu.

Tài liệu tham khảo

  1. Carney N, Totten AM, O'Reilly C, Ullman JS, Hawryluk GW, Bell MJ, et al. (2016). Guidelines for the Management of Severe Traumatic Brain Injury, Fourth Edition. Neurosurgery, 80(1), 6-15. DOI: 10.1227/neu.0000000000001432
  2. Hawryluk GWJ, Aguilera S, Buki A, Bulger E, Citerio G, Cooper DJ, et al. (2019). A management algorithm for patients with intracranial pressure monitoring: the Seattle International Severe Traumatic Brain Injury Consensus Conference (SIBICC). Intensive Care Medicine, 45(12), 1783-1794. DOI: 10.1007/s00134-019-05805-9
  3. Stocchetti N, Maas AI. (2014). Traumatic Intracranial Hypertension. New England Journal of Medicine, 370(22), 2121-2130. DOI: 10.1056/nejmra1208708
  4. Maas AIR, Menon DK, Manley GT, Abrams M, Åkerlund C, Andelic N, et al. (2022). Traumatic brain injury: progress and challenges in prevention, clinical care, and research. The Lancet Neurology, 21(11), 1004-1060. DOI: 10.1016/s1474-4422(22)00309-x
  5. Ng SY, Lee AYW. (2019). Traumatic Brain Injuries: Pathophysiology and Potential Therapeutic Targets. Frontiers in Cellular Neuroscience, 13, 528. DOI: 10.3389/fncel.2019.00528
  6. de Macedo Filho LJM, Figueredo BD, Villegas-Gomez D, Arthur J, Pedraza-Ciro M, Martins GS, et al. (2024). Pathophysiology-Based Management of Secondary Injuries and Insults in TBI. Biomedicines, 12(3), 520. DOI: 10.3390/biomedicines12030520
  7. Bộ Y tế Việt Nam (2020). Quyết định 2536/QĐ-BYT. Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng người bệnh chấn thương sọ não, đột quỵ và bại não. Nguồn