Từ điển học thuật Khoa học y - dược

SonoVue (sulfur hexafluoride) là gì?

Tiếng Anhsulfur hexafluoride microbubbles

Tên gọi khácchất tương phản SonoVueLumason

SonoVue là chất tương phản siêu âm thế hệ thứ hai chứa các vi bọt khí sulfur hexafluoride được bao bọc bởi lớp vỏ phospholipid màng đơn, dùng tiêm tĩnh mạch trong kỹ thuật siêu âm tăng cường chất tương phản.

Cập nhật 22/10/2026

SonoVue là chất tương phản siêu âm thế hệ thứ hai chứa các vi bọt khí sulfur hexafluoride được bao bọc bởi lớp vỏ phospholipid màng đơn, dùng tiêm tĩnh mạch trong kỹ thuật siêu âm tăng cường chất tương phản. Thuốc có tác dụng làm tăng phản xạ sóng âm từ dòng máu và cải thiện độ tương phản tín hiệu vi mạch, phục vụ chẩn đoán các tổn thương khu trú ở gan, bệnh lý tim mạch, hệ tiết niệu và mạch máu ngoại biên. Bài viết này trình bày cấu trúc lý hóa, nguyên lý âm học, động học ngấm thuốc, các chỉ định lâm sàng, hồ sơ an toàn và phạm vi ứng dụng của SonoVue trong thực hành y khoa.

Bản chất lý hóa và cấu trúc vi bọt

SonoVue là một chế phẩm chất tương phản vi bọt lưu hành hoàn toàn trong lòng mạch máu. Mỗi lọ SonoVue thành phẩm gồm 25 mg bột đông khô màu trắng và khoảng không khí bên trên chứa 59 mg khí sulfur hexafluoride (SF6SF_6). Khí sulfur hexafluoride là một chất khí tổng hợp trơ về mặt sinh học, kỵ nước cao, khối lượng phân tử lớn và có độ hòa tan rất thấp trong máu cũng như các dung dịch sinh lý. Lớp vỏ bọc bên ngoài của vi bọt được tạo thành từ hỗn hợp phospholipid màng đơn có tính chất lưỡng cực (chủ yếu là distearoylphosphatidylcholine và dipalmitoylphosphatidylglycerol cùng với acid palmitic), có vai trò làm giảm sức căng bề mặt giữa pha khí và pha lỏng, qua đó ngăn ngừa hiện tượng hợp nhất vi bọt và chống lại sự hòa tan sớm của khí vào huyết tương.

Theo tài liệu thông tin sản phẩm của Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu (European Medicines Agency, EMA, 2024), sau khi được hoàn nguyên với 5 ml dung dịch natri clorid 9 mg/ml, hỗn dịch tạo thành có màu trắng đục đồng nhất. Mỗi mililit hỗn dịch chứa khoảng 8 microlit vi bọt khí sulfur hexafluoride, tương đương với 45 microgam khí. Đường kính trung bình của các vi bọt khí trong SonoVue là khoảng 2,5 micromet, trong đó hơn 90% số lượng vi bọt có đường kính nhỏ hơn 6 micromet. Nhờ kích thước nhỏ hơn đáng kể so với đường kính trung bình của tế bào hồng cầu người, các vi bọt SonoVue có thể di chuyển tự do qua hệ thống mao mạch phổi và các mạng lưới mao mạch ngoại vi mà không gây ra hiện tượng tắc nghẽn mạch máu cơ học.

Lịch sử phát triển và pháp lý

SonoVue được phát triển bởi tập đoàn Bracco (Ý) nhằm khắc phục những nhược điểm về độ ổn định ngắn và tính dễ vỡ của các chất tương phản siêu âm thế hệ thứ nhất (vốn sử dụng không khí tự nhiên bọc trong vỏ albumin hoặc galactose). SonoVue được Ủy ban Châu Âu chính thức cấp phép lưu hành tập trung trên toàn bộ Liên minh Châu Âu vào ngày 26 tháng 3 năm 2001 (EMA, 2001). Tại thị trường Hoa Kỳ, hoạt chất vi bọt sulfur hexafluoride được bào chế dưới cùng công thức lipid và được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration, FDA) cấp phép với tên thương mại Lumason vào ngày 10 tháng 10 năm 2014 cho chỉ định siêu âm tim mạch ở người lớn (FDA, 2014). Đến ngày 31 tháng 3 năm 2016, FDA mở rộng phê duyệt Lumason cho chỉ định siêu âm gan để định tính các khối tổn thương khu trú ở cả người lớn và trẻ em (FDA, 2016).

Tại Việt Nam, kỹ thuật siêu âm có chất tương phản sử dụng SonoVue đã được triển khai tại các bệnh viện tuyến trung ương và viện nghiên cứu chuyên khoa. Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 3129/QĐ-BYT ngày 17 tháng 07 năm 2020 về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào gan, trong đó chính thức đưa siêu âm có chất tương phản vào danh mục các phương tiện chẩn đoán hình ảnh học chuyên sâu để đánh giá tính chất tưới máu của tổn thương khu trú tại gan.

Nguyên lý âm học và cơ chế tạo tín hiệu

Nguyên lý hoạt động của SonoVue dựa trên sự khác biệt rất lớn về trở kháng âm giữa khối khí sulfur hexafluoride bên trong vi bọt và môi trường mô hoặc huyết tương xung quanh. Trở kháng âm ZZ của một môi trường vật chất được xác định bằng công thức:

Z=ρ⋅cZ = \rho \cdot c

với ρ\rho là khối lượng riêng của môi trường và cc là vận tốc truyền sóng âm trong môi trường đó. Do mật độ vật chất của khí sulfur hexafluoride nhỏ hơn hàng nghìn lần so với huyết tương và mô mềm, giao diện giữa vỏ vi bọt và máu tạo ra bề mặt phản xạ sóng âm cực mạnh, làm tăng đáng kể hệ số tán xạ ngược.

Khi chùm sóng siêu âm kích thích truyền qua, vi bọt SonoVue hoạt động như một hệ dao động cộng hưởng cơ học. Hành vi âm học của vi bọt phụ thuộc chặt chẽ vào mức năng lượng phát sóng của đầu dò, được định lượng bằng chỉ số cơ học (Mechanical Index, MI). Chỉ số cơ học được xác định theo tỷ lệ giữa biên độ áp suất âm cực đại và căn bậc hai của tần số trung tâm của chùm sóng âm:

MI=PnegfMI = \frac{P_{neg}}{\sqrt{f}}

với PnegP_{neg} là biên độ áp suất âm đỉnh và ff là tần số trung tâm của sóng siêu âm phát ra. Trong thực hành siêu âm tăng cường chất tương phản với SonoVue, các máy siêu âm sử dụng chế độ phát sóng có chỉ số cơ học rất thấp nhằm bảo tồn cấu trúc vi bọt:

  • Chế độ chỉ số cơ học thấp: Khi áp suất âm đủ nhỏ, vi bọt co giãn có chu kỳ theo các pha nén và pha giãn của sóng âm. Do tính chất cơ học bất đối xứng (vi bọt bị nén khó hơn so với khi giãn ra), dao động của vi bọt mang tính chất phi tuyến rõ rệt. Quá trình dao động phi tuyến này phát ra các sóng âm hòa âm bậc cao và sóng dưới hòa âm. Các thuật ngữ công nghệ đầu dò hiện đại (như kỹ thuật đảo xung - pulse inversion hoặc điều chế biên độ - amplitude modulation) triệt tiêu các tín hiệu phản xạ tuyến tính từ mô nền của cơ thể và chỉ thu nhận các tín hiệu hòa âm phi tuyến từ vi bọt, tạo ra hình ảnh mạch máu với độ tương phản vượt trội.
  • Chế độ chỉ số cơ học cao (phá vỡ vi bọt): Khi tăng chỉ số cơ học lên mức cao, biên độ giãn nở vượt quá giới hạn đàn hồi của màng phospholipid khiến vi bọt vỡ tung (hiện tượng tạo hốc quán tính). Sự phá hủy vi bọt giải phóng một xung tín hiệu âm học có biên độ rất mạnh trong khoảnh khắc ngắn trước khi tín hiệu biến mất hoàn toàn. Kỹ thuật này được ứng dụng trong thủ thuật tái nạp vi bọt (flash-replenishment) để định lượng tốc độ và lưu lượng tái tưới máu tại vùng mô đích.

Dược động học và con đường thải trừ

Khác biệt căn bản giữa SonoVue và các thuốc cản quang dùng trong chụp cắt lớp vi tính hay chụp cộng hưởng từ là SonoVue là một chất tương phản hoàn toàn nằm trong lòng mạch máu (pure intravascular agent). Kích thước vi bọt khoảng 2,5 micromet ngăn không cho thuốc thẩm thấu qua các khe hở nội mô của mao mạch bình thường để đi vào khoang gian bào hay mô kẽ.

Sau khi tiêm tĩnh mạch, các thành phần của SonoVue được đào thải theo hai con đường sinh học độc lập và nhanh chóng:

  • Thải trừ pha khí qua phổi: Khí sulfur hexafluoride hòa tan một lượng cực nhỏ vào máu rồi khuếch tán qua màng phế nang - mao mạch tại phổi để đi vào khí thở ra. Theo dữ liệu dược động học của EMA (2024), hơn 80% lượng khí sulfur hexafluoride đưa vào cơ thể được thải trừ qua hơi thở trong vòng 2 phút đầu tiên sau tiêm, và thuốc được đào thải gần như hoàn toàn sau 11 phút.
  • Chuyển hóa vỏ phospholipid: Lớp màng lipid sau khi khí khuếch tán ra ngoài sẽ tự phân rã thành các mảnh lipid nội sinh và được chuyển hóa qua các con đường dị hóa chất béo bình thường của cơ thể hoặc được hệ liên võng nội mô tiếp nhận.

SonoVue không trải qua quá trình lọc hay bài tiết qua cầu thận, do đó thuốc hoàn toàn không có độc tính trên thận và không làm suy giảm chức năng thận ở người bệnh.

Động học tưới máu gan và ứng dụng trong chẩn đoán ung thư

Ứng dụng phổ biến và có giá trị lâm sàng cao nhất của SonoVue là đánh giá các nốt và khối tổn thương khu trú ở gan. Nhờ tuần hoàn kép của gan (khoảng một phần tư lưu lượng máu cung cấp từ động mạch gan và ba phần tư từ tĩnh mạch cửa), việc theo dõi liên tục dòng chảy SonoVue qua các thì mạch máu theo thời gian thực cho phép phân biệt chính xác bản chất mô học của từng loại khối u.

Theo Hướng dẫn thực hành lâm sàng của Liên đoàn Thế giới về Siêu âm trong Y học và Sinh học phối hợp với Liên đoàn Châu Âu (WFUMB-EFSUMB, Dietrich và cộng sự, 2020), quá trình khảo sát gan bằng SonoVue được chia làm ba thì liên tiếp:

  • Thì động mạch gan (arterial phase): Bắt đầu khoảng 10 đến 20 giây sau khi tiêm thuốc và kéo dài đến 30 hoặc 45 giây. Thì này phản ánh nguồn cấp máu trực tiếp từ các nhánh của động mạch gan.
  • Thì tĩnh mạch cửa (portal venous phase): Kéo dài từ 30 hoặc 45 giây đến 120 giây sau tiêm, khi vi bọt theo hệ thống tĩnh mạch cửa đổ vào các xoang gan và làm nhu mô gan lành ngấm thuốc đồng nhất ở mức tối đa.
  • Thì muộn (late phase): Kéo dài từ 120 giây cho đến khi vi bọt bị thải trừ hoàn toàn khỏi tuần hoàn máu ngoại vi, thường vào khoảng 4 đến 6 phút sau tiêm.

Các dạng ngấm thuốc điển hình của các tổn thương gan thường gặp trên siêu âm sử dụng SonoVue bao gồm:

Loại tổn thương Thì động mạch (10 đến 20 giây đến 30 hoặc 45 giây) Thì tĩnh mạch cửa (30 hoặc 45 giây đến 120 giây) Thì muộn (120 giây đến 4 hoặc 6 phút)
Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) Ngấm thuốc mạnh và nhanh toàn bộ nốt (APHE) Bắt đầu giảm âm nhẹ hoặc đồng âm với nhu mô gan Thải thuốc muộn và ở mức độ nhẹ sau 60 giây
U máu gan thể hang (Hemangioma) Ngấm thuốc dạng nốt viền ngoại vi không liên tục Thuốc ngấm tiến dần từ ngoại vi vào trung tâm nốt Lấp đầy hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn, tăng hoặc đồng âm
Tăng sinh dạng nốt khu trú (FNH) Ngấm thuốc cực nhanh hình nan hoa từ sẹo xơ trung tâm Đồng âm hoặc tăng âm nhẹ so với nhu mô xung quanh Giữ thuốc bền vững, đồng âm, thấy rõ sẹo xơ trung tâm
U gan di căn (Metastasis) Ngấm thuốc viền dạng bia bắn hoặc ngấm hỗn hợp Thải thuốc rất nhanh và sớm trước 60 giây Giảm âm sâu, khuyết thuốc rõ rệt tạo hình ảnh lỗ đen

Tại Việt Nam, Quyết định số 3129/QĐ-BYT năm 2020 của Bộ Y tế quy định tiêu chuẩn hình ảnh kinh điển của ung thư biểu mô tế bào gan trên siêu âm có chất tương phản là ngấm thuốc mạnh thì động mạch (arterial phase hyperenhancement, APHE) và thải thuốc nhẹ sau 60 giây. Khác với u gan di căn hay ung thư đường mật trong gan (thường thải thuốc rất sớm và tạo vùng khuyết thuốc sâu trong thì tĩnh mạch cửa), đặc điểm thải thuốc muộn và nhẹ của ung thư biểu mô tế bào gan giúp bác sĩ chẩn đoán phân biệt với độ đặc hiệu cao.

Các ứng dụng lâm sàng ngoài gan

Bên cạnh bệnh lý gan mật, SonoVue được ứng dụng rộng rãi trong nhiều chuyên khoa khác theo các khuyến cáo của Hướng dẫn EFSUMB (Sidhu và cộng sự, 2018):

  • Siêu âm tim mạch (Echocardiography): SonoVue làm tăng cường độ phản hồi âm của dòng máu trong buồng thất trái, giúp viền rõ bờ nội tâm mạc ở những bệnh nhân có cửa sổ siêu âm qua thành ngực khó khăn. Nhờ đó, bác sĩ đo lường chính xác phân suất tống máu, phát hiện các rối loạn vận động vùng cơ tim do thiếu máu cục bộ, và xác định các huyết khối bám thành buồng tim.
  • Đánh giá tổn thương thận: SonoVue phân biệt các nang thận phức tạp (phân loại Bosniak) thông qua việc nhận diện tưới máu ở vách ngăn hay nốt thành nang, phát hiện nhồi máu thận và đánh giá vùng tưới máu của nhu mô thận sau phẫu thuật ghép thận. Vì thuốc không đào thải qua thận, SonoVue là giải pháp thay thế tuyệt vời cho chụp cắt lớp vi tính ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận.
  • Chấn thương tạng đặc ổ bụng: Trong cấp cứu chấn thương bụng kín, SonoVue phát hiện các đường rách nhu mô gan, lách, thận và ổ đụng dập tưới máu kém mà siêu âm 2D thông thường dễ bỏ sót, đồng thời nhận diện tình trạng thoát mạch hoạt động của chất tương phản.
  • Siêu âm bàng quang niệu quản ở trẻ em: Bằng cách bơm hỗn dịch SonoVue pha loãng qua ống thông vào bàng quang (kỹ thuật siêu âm bàng quang niệu quản có chất tương phản, ceVUS), bác sĩ phát hiện tình trạng trào ngược bàng quang niệu quản ở bệnh nhi mà không để trẻ bị phơi nhiễm tia bức xạ X-quang như phương pháp chụp bàng quang niệu đạo lúc tiểu truyền thống. Sổ bộ nhi khoa EFSUMB (Dietrich và cộng sự, 2021) phân tích dữ liệu trên 1676 trẻ em được thực hiện siêu âm tiêm tĩnh mạch ghi nhận 1657 trẻ tương đương 98,9% hoàn toàn không gặp bất kỳ biến cố ngoại ý nào liên quan đến thuốc, khẳng định hồ sơ dung nạp rất tốt của vi bọt SonoVue trong thực hành lâm sàng nhi khoa.

So sánh SonoVue với các chất đối quang khác

Việc lựa chọn chất tương phản phụ thuộc vào phương tiện chẩn đoán hình ảnh, mục tiêu khảo sát và bệnh lý nền của người bệnh:

Đặc tính so sánh SonoVue (Sulfur hexafluoride) Sonazoid (Perfluorobutane) Thuốc cản quang iod (CT scan) Thuốc đối quang từ Gadolinium (MRI)
Phương tiện sử dụng Siêu âm (CEUS) Siêu âm (CEUS) Chụp cắt lớp vi tính (CT) Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Phân bố trong cơ thể Hoàn toàn trong lòng mạch Lòng mạch và tế bào Kupffer Khuếch tán vào khoang ngoại bào Khuếch tán vào khoang ngoại bào
Thì sau mạch máu (Kupffer) Không có (thải trừ sau 4 đến 6 phút) Có thì Kupffer kéo dài hàng giờ Không có Có ở thuốc chuyên biệt cho tế bào gan
Độc tính trên thận Không có độc tính thận Không có độc tính thận Nguy cơ bệnh thận do thuốc cản quang Nguy cơ xơ hóa toàn thân nguồn gốc thận
Bức xạ ion hóa Không sử dụng tia xạ Không sử dụng tia xạ Có phơi nhiễm tia bức xạ X-quang Không sử dụng tia xạ
Thời gian theo dõi Liên tục theo thời gian thực Liên tục theo thời gian thực Chụp ngắt quãng theo từng mốc Chụp ngắt quãng theo từng chuỗi xung

Hồ sơ an toàn và chống chỉ định

SonoVue được đánh giá là một trong những loại thuốc chẩn đoán hình ảnh có độ an toàn và dung nạp sinh học cao nhất trong y học hiện đại. Trong một nghiên cứu đa trung tâm quy mô lớn do Piscaglia và Bolondi (2006) thực hiện tại 28 trung tâm y khoa ở Ý, phân tích dữ liệu trên 23188 ca siêu âm ổ bụng sử dụng SonoVue ghi nhận tổng cộng 29 trường hợp xuất hiện biến cố ngoại ý, tương ứng với tỷ lệ 0,125%. Đa phần các biến cố ngoại ý là nhẹ và tự hồi phục trong thời gian ngắn (như nóng bừng mặt, vị lạ ở miệng, đau đầu nhẹ hoặc ngứa nhẹ tại vị trí tiêm). Chỉ có 2 trường hợp gặp phản ứng nghiêm trọng (tỷ lệ 0,0086%) và hoàn toàn không có trường hợp nào tử vong.

Dù có độ an toàn cao, Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu (EMA, 2024) đưa ra các chống chỉ định nghiêm ngặt đối với SonoVue nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho người bệnh:

  • Tiền sử dị ứng: Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn đã biết với sulfur hexafluoride hoặc bất kỳ tá dược phospholipid nào của thuốc.
  • Bệnh lý tim mạch có luồng thông phải - trái: Shunt tim phải - trái giải phẫu học hoặc chức năng là chống chỉ định tuyệt đối vì vi bọt khí có thể đi thẳng vào tuần hoàn đại tuần hoàn mà không qua lưới lọc mao mạch phổi, dẫn đến nguy cơ tắc mạch vi tuần hoàn não hoặc mạch vành.
  • Tăng áp lực động mạch phổi nặng: Bệnh nhân có tăng áp lực động mạch phổi nặng với áp lực động mạch phổi lúc nghỉ lớn hơn 90 mmHg.
  • Hội chứng vành cấp không ổn định: Bệnh nhân có hội chứng mạch vành cấp, nhồi máu cơ tim cấp hoặc bệnh tim thiếu máu cục bộ không ổn định trên lâm sàng trong vòng 7 ngày gần nhất.
  • Suy tim mất bù nặng: Suy tim độ III hoặc độ IV theo phân loại của Hội Tim mạch New York (NYHA), rối loạn nhịp thất nặng hoặc viêm nội tâm mạc tiến triển.
  • Phụ nữ có thai: Hiện chưa có đủ dữ liệu nghiên cứu có kiểm soát trên phụ nữ mang thai, do đó khuyến cáo không sử dụng SonoVue trong thai kỳ trừ khi thực sự cần thiết.

Ưu điểm và những hạn chế kỹ thuật

Kỹ thuật siêu âm tăng cường chất tương phản sử dụng vi bọt SonoVue sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội so với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh cắt lớp truyền thống:

  • Ghi hình động học theo thời gian thực: Tần số quét hình ảnh cao của máy siêu âm cho phép quan sát liên tục từng khoảnh khắc thuốc đi vào và đi ra khỏi vi mạch khối u, bắt trọn đỉnh ngấm thuốc thì động mạch sớm vốn dễ bị bỏ sót trên các lát cắt ngắt quãng của chụp CT hay MRI.
  • Tính an toàn vượt trội: Không dùng tia bức xạ X-quang, không gây dị ứng liên quan đến iod, không gây độc cho thận, cho phép chỉ định an toàn trên bệnh nhân suy thận mạn tính hoặc trẻ em.
  • Khả năng lặp lại tức thì: Nhờ thời gian bán thải nhanh (hơn 80% khí đào thải sau 2 phút và gần như hoàn toàn sau 11 phút), người thăm khám có thể tiêm lặp lại liều SonoVue thứ hai ngay trong cùng một buổi khám để kiểm tra lại tổn thương nghi ngờ hoặc khảo sát thêm một nốt tổn thương khác.

Mặc dù vậy, việc áp dụng SonoVue vẫn tồn tại những ranh giới và hạn chế kỹ thuật cần được nhận định rõ trong thực hành:

  • Trường nhìn hạn chế: Không giống như CT hay MRI có thể quét toàn diện toàn bộ ổ bụng trong một lần phát tia, chùm sóng siêu âm chỉ tập trung vào một vị trí giải phẫu nhất định tại một thời điểm. Do đó, nếu bệnh nhân có nhiều tổn thương rải rác ở cả hai thùy gan, việc đánh giá toàn diện tất cả các nốt trong cùng một lần tiêm là rất khó khăn.
  • Ảnh hưởng bởi thể trạng người bệnh: Sóng siêu âm bị suy giảm mạnh khi đi qua các lớp mỡ dày ở bệnh nhân béo phì, bị cản trở bởi hơi trong các quai ruột hoặc bóng cản của các xương sườn, khiến việc bộc lộ các tổn thương nằm sâu ở vòm hoành hoặc thùy đuôi gặp nhiều trở ngại.
  • Phụ thuộc vào kỹ năng người thực hiện: Kết quả siêu âm SonoVue phụ thuộc rất lớn vào kinh nghiệm thao tác của bác sĩ chẩn đoán hình ảnh trong việc cài đặt thông số máy, điều chỉnh tiêu cự, duy trì chỉ số cơ học thấp và giữ ổn định đầu dò trong suốt chu trình tưới máu của khối u.
  • Không có thì sau mạch máu thực sự: Do SonoVue thuần túy nằm trong lòng mạch và không được tế bào Kupffer thực bào bền vững như Sonazoid, cửa sổ thời gian thăm khám bị giới hạn trong khoảng 4 đến 6 phút trước khi tín hiệu vi bọt suy giảm hoàn toàn.

Câu hỏi thường gặp

SonoVue là gì và có vai trò gì trong siêu âm?

SonoVue là chất tương phản siêu âm thế hệ thứ hai chứa các vi bọt khí sulfur hexafluoride bao bọc bởi màng phospholipid, dùng qua đường tiêm tĩnh mạch. Thuốc làm tăng phản xạ sóng âm từ dòng máu và cải thiện độ tương phản mạch máu theo thời gian thực. Phương pháp này giúp bác sĩ chẩn đoán chính xác các khối u gan, bệnh lý tim mạch và tổn thương mạch máu ngoại biên.

SonoVue có gây độc cho thận giống như thuốc cản quang chụp CT không?

SonoVue không gây độc cho thận và an toàn cho bệnh nhân suy giảm chức năng thận. Thuốc lưu hành hoàn toàn trong lòng mạch máu và không lọc qua cầu thận. Khí sulfur hexafluoride được đào thải qua đường hô hấp qua phổi, trong khi lớp vỏ lipid được chuyển hóa tự nhiên trong cơ thể.

Các chống chỉ định chính của SonoVue là gì?

SonoVue chống chỉ định ở người có tiền sử quá mẫn với sulfur hexafluoride hoặc các tá dược phospholipid của thuốc. Thuốc cũng chống chỉ định tuyệt đối ở bệnh nhân có luồng thông tim phải - trái do nguy cơ tắc mạch đại tuần hoàn. Ngoài ra, bệnh nhân tăng áp lực động mạch phổi nặng với áp lực lúc nghỉ lớn hơn 90 mmHg hoặc mắc hội chứng mạch vành cấp trong vòng 7 ngày không được chỉ định sử dụng.

Tại sao ung thư biểu mô tế bào gan có hình ảnh đặc trưng trên siêu âm SonoVue?

Ung thư biểu mô tế bào gan nhận nguồn cấp máu chủ yếu từ các nhánh động mạch gan tân sinh, dẫn đến hiện tượng ngấm thuốc mạnh thì động mạch sau khi tiêm SonoVue. Do khối u thiếu hệ thống tĩnh mạch cửa và các xoang gan bình thường, khối u bắt đầu thải thuốc nhẹ sau 60 giây. Theo Quyết định số 3129/QĐ-BYT năm 2020 của Bộ Y tế, đặc điểm ngấm thuốc mạnh thì động mạch và thải thuốc muộn là dấu hiệu kinh điển để chẩn đoán xác định.

Tài liệu tham khảo

  1. Dietrich, C. F., Nolsøe, C. P., Barr, R. G., Berzigotti, A., Burns, P. N., Cantisani, V., Chammas, M. C., Chaubal, N., Choi, B. I., Clevert, D. A., Cui, X. W., Dong, Y., D'Onofrio, M., Fowlkes, J. B., Gilja, O. H., Huang, P. T., Ignee, A., Jenssen, C., Kono, Y., Kudo, M., Lassau, N., Lee, D. H., Lee, J. Y., Liang, P., Lim, A., Lyshchik, A., Meloni, M. F., Correas, J. M., Minami, Y., Moriyasu, F., Nicolau, C., Piscaglia, F., Saftoiu, A., Sidhu, P. S., Sporea, I., Torzilli, G., Xie, X. Y., Zheng, R. Q. (2020). Guidelines and Good Clinical Practice Recommendations for Contrast-Enhanced Ultrasound (CEUS) in the Liver–Update 2020 WFUMB in Cooperation with EFSUMB, AFSUMB, AIUM, and FLAUS. Ultrasound in Medicine & Biology, 46(10), 2579-2604. DOI: 10.1016/j.ultrasmedbio.2020.04.030
  2. Sidhu, P. S., Cantisani, V., Dietrich, C. F., Gilja, O. H., Saftoiu, A., Bartels, E., Bertolotto, M., Calliada, F., Clevert, D. A., Cosgrove, D., Deganello, A., D’Onofrio, M., Drudi, F. M., Freeman, S., Harvey, C. J., Jenssen, C., Jung, E. M., Klauser, A. S., Lassau, N., Meloni, M. F., Leen, E., Nicolau, C., Nolsoe, C., Piscaglia, F., Prada, F., Prosch, H., Radzina, M., Savelli, L., Weskott, H. P., Wijkstra, H. (2018). The EFSUMB Guidelines and Recommendations for the Clinical Practice of Contrast-Enhanced Ultrasound (CEUS) in Non-Hepatic Applications: Update 2017 (Long Version). Ultraschall in der Medizin - European Journal of Ultrasound, 39(2), e2-e44. DOI: 10.1055/a-0586-1107
  3. Piscaglia, F., Bolondi, L. (2006). The safety of Sonovue® in abdominal applications: Retrospective analysis of 23188 investigations. Ultrasound in Medicine & Biology, 32(9), 1369-1375. DOI: 10.1016/j.ultrasmedbio.2006.05.031
  4. Dietrich, C. F., Augustiniene, R., Batko, I., Cantisani, V., Cekuolis, A., Deganello, A., Dong, Y., Franke, D., Harkanyi, Z., Humphries, P. D., Jędrzejczyk, M., Jüngert, J., Kinkel, H., Koller, M. C., Kosiak, W., Kunze, C., Ljutikov, A., Madzik, J., Mentzel, H. J., Piskunowicz, M., Rafailidis, V., Schreiber-Dietrich, D., Sellars, M. E., Stenzel, M., Taut, H., Yusuf, G. T., Sidhu, P. S. (2021). European Federation of Societies for Ultrasound in Medicine and Biology (EFSUMB): An Update on the Pediatric CEUS Registry on Behalf of the “EFSUMB Pediatric CEUS Registry Working Group”. Ultraschall in der Medizin - European Journal of Ultrasound, 42(3), 270-277. DOI: 10.1055/a-1345-3626
  5. European Medicines Agency (2024). SonoVue: EPAR - Product Information (Summary of Product Characteristics). European Public Assessment Report. Nguồn
  6. Bộ Y tế Việt Nam (2020). Quyết định số 3129/QĐ-BYT ngày 17/7/2020 về việc ban hành tài liệu chuyên môn Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Bộ Y tế. Nguồn