Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Lồi cầu

Tiếng AnhCondyle

Lồi cầu (Condyle) là cấu trúc giải phẫu xương hình tròn hoặc bầu dục ở đầu khớp của một xương, khớp với một hõm khớp hoặc đĩa sụn tương ứng để tạo thành một khớp động học linh hoạt.

286 lượt xem Cập nhật 8/9/2026

Lồi cầu (Condyle) là cấu trúc giải phẫu xương hình tròn hoặc bầu dục ở đầu khớp của một xương, khớp với một hõm khớp hoặc đĩa sụn tương ứng để tạo thành một khớp động học linh hoạt.

Đặc điểm giải phẫu và vị trí của các lồi cầu trong cơ thể

Thuật ngữ "lồi cầu" xuất phát từ tiếng Hy Lạp "kondylos" (có nghĩa là khớp ngón hoặc đốt lồi), dùng để chỉ đầu tận cùng phình to và nhẵn bóng của các xương tham gia vào các khớp chịu lực hoặc khớp vận động biên độ lớn. Các vị trí lồi cầu giải phẫu quan trọng nhất trong cơ thể người bao gồm:

  • Lồi cầu xương hàm dưới (Mandibular condyle): Nằm ở mỏm sau của ngành lên xương hàm dưới, cấu thành khớp thái dương hàm (TMJ) điều khiển cử động ăn nhai và ngôn ngữ.
  • Lồi cầu xương chẩm (Occipital condyle): Hai mỏm xương hình quả thận ở mặt dưới xương chẩm hai bên lỗ lớn (foramen magnum), khớp với diện khớp trên của đốt đội C1 tạo thành khớp đội - chẩm.
  • Lồi cầu xương đùi (Femoral condyles): Gồm lồi cầu trong (medial) và lồi cầu ngoài (lateral) ở đầu dưới xương đùi, tiếp khớp với mâm chày và xương bánh chè để cấu tạo nên khớp gối.
  • Lồi cầu xương cánh tay (Humeral condyle): Bao gồm chỏm con (capitulum) tiếp khớp với đài quay và ròng rọc (trochlea) tiếp khớp với khuyết ròng rọc xương trụ tại khớp khuỷu.

Cấu trúc mô học và cơ học của lồi cầu xương hàm dưới

Lồi cầu hàm dưới có hình elip bất đối xứng với trục ngang dài khoảng 15-20 mm và trục trước sau khoảng 8-10 mm. Khác biệt cơ bản so với các khớp động khác được bao bọc bởi sụn trong (hyaline cartilage), diện khớp của lồi cầu hàm dưới được bao phủ bởi sụn xơ (fibrocartilage) giàu collagen type I:

Lớp mô học Thành phần tế bào & Chất nền Chức năng sinh học
Lớp bề mặt (Articular zone) Mạng lưới sợi collagen type I xếp song song với bề mặt diện khớp, tế bào sợi dẹt. Chịu lực ma sát trượt và chống lại ứng suất cắt trong quá trình vận động hàm.
Lớp tăng sinh (Proliferative zone) Mật độ cao tế bào trung mô chưa biệt hóa có khả năng phân chia nguyên phân liên tục. Cung cấp tế bào tiền thân để tái cấu trúc và thích nghi thứ phát suốt đời sống.
Lớp sụn xơ (Fibrocartilaginous zone) Nguyên bào sụn nằm rải rác giữa các bó sợi collagen xếp bắt chéo và proteoglycan. Hấp thụ lực nén ép thủy tĩnh sinh ra từ lực co cơ cắn và cơ chân bướm trong.
Lớp sụn khoáng hóa (Calcified cartilage) Tế bào sụn phì đại ngấm tinh thể canxi hydroxyapatite tiếp giáp xương bè dưới sụn. Neo giữ lớp sụn khớp vào tấm xương đặc của chỏm lồi cầu.

Động học khớp thái dương hàm: Chuyển động xoay và trượt

Khớp thái dương hàm là một khớp phức hợp lưỡng lồi cầu hoạt dịch (bicondylar synovial joint) với sự hiện diện của đĩa khớp xơ sụn ngăn đôi khoang khớp:

  • Chuyển động xoay (Rotational movement): Diễn ra ở khoang khớp dưới (giữa mặt trên lồi cầu và mặt dưới đĩa khớp) trong giai đoạn đầu của cử động mở miệng, tạo biên độ há miệng ban đầu khoảng 20-25 mm.
  • Chuyển động trượt (Translational movement): Diễn ra ở khoang khớp trên (giữa mặt trên đĩa khớp và củ khớp xương thái dương) trong giai đoạn mở miệng tối đa (đạt 40-50 mm) và đưa hàm ra trước, khi phức hợp lồi cầu - đĩa khớp cùng trượt xuống dưới và ra trước dọc theo dốc khớp.
  • Vận động sang bên (Lateral excursion): Lồi cầu bên làm việc xoay nhẹ tại chỗ (góc Bennett), trong khi lồi cầu bên không làm việc di chuyển ra trước, xuống dưới và vào trong.

Các bệnh lý lâm sàng và tổn thương thường gặp ở lồi cầu hàm

Do vị trí chịu lực động học liên tục, lồi cầu hàm dưới đối mặt với nhiều dạng bệnh lý hình thái và chức năng:

  1. Gãy lồi cầu xương hàm dưới: Chiếm khoảng 25-35% tổng số gãy xương hàm dưới do chấn thương va đập vùng cằm truyền lực gián tiếp lên lồi cầu. Phân loại theo AO CMF chia thành gãy chỏm lồi cầu (nội khớp), gãy cổ lồi cầu và gãy dưới lồi cầu; chỉ định mổ kết hợp xương nẹp vít vững chắc khi di lệch gập góc lớn hoặc ngắn cành cao gây sai khớp cắn hở một bên.
  2. Thoái hóa khớp thái dương hàm (Osteoarthritis): Mất cân bằng giữa tải trọng cơ học và khả năng sửa chữa mô sụn dẫn đến mòn sụn khớp, xơ cứng xương dưới sụn, hình thành gai xương (osteophytes) và dẹt chỏm lồi cầu, gây tiếng kêu lạo xạo khi há miệng và đau cơ nhai.
  3. Tiêu lồi cầu vô căn (Idiopathic Condylar Resorption - ICR): Bệnh lý tự phát thường gặp ở phụ nữ trẻ tuổi, đặc trưng bởi sự tiêu ngót lũy tiến thể tích xương lồi cầu làm giảm chiều cao cành cao xương hàm dưới, dẫn đến lùi cằm thứ phát và cắn hở răng cửa trước nặng nề.

Câu hỏi thường gặp

Lồi cầu xương hàm dưới (mandibular condyle) có vai trò giải phẫu và chức năng gì trong khớp thái dương hàm?

Lồi cầu hàm dưới khớp với hố hàm và củ khớp xương thái dương thông qua đĩa khớp xơ sụn, thực hiện các chuyển động xoay và trượt phức tạp giúp hàm mở, đóng, đưa ra trước và sang hai bên trong quá trình ăn nhai và phát âm.

Lồi cầu xương chẩm (occipital condyle) kết nối với đốt sống cổ nào và có chức năng gì?

Hai lồi cầu xương chẩm khớp với diện khớp trên của đốt đội (đốt sống cổ C1), tạo thành khớp đội - chẩm chịu trách nhiệm cho các chuyển động gật đầu (cúi và ngửa cổ) của hộp sọ.

Các tổn thương thường gặp ở lồi cầu khớp thái dương hàm bao gồm những bệnh lý nào?

Bao gồm gãy lồi cầu do chấn thương hàm mặt, thoái hóa khớp thái dương hàm (tiêu xương lồi cầu), tiêu lồi cầu vô căn (ICR) và loạn năng khớp thái dương hàm gây đau và hạn chế há miệng.

Tài liệu tham khảo

  1. Carvalho (2021). Surgical Reduction of Symphysis Fracture and Spontaneous Repositioning of the Mandibular Condyle: A Case Report. SOJ Dental and Oral Disorder. doi:10.53902/sojdod.2021.01.000512 DOI: 10.53902/sojdod.2021.01.000512
  2. Bridgman, McNab (1992). Traumatic occipital condyle fracture, multiple cranial nerve palsies, and torticollis: A case report and review of the literature. Surgical Neurology. doi:10.1016/0090-3019(92)90094-4 DOI: 10.1016/0090-3019(92)90094-4
  3. Canavese (2026). Lateral Condyle Fracture. Advances in Pediatric Extremity Fracture Management. doi:10.1007/978-3-032-33306-3_5 DOI: 10.1007/978-3-032-33306-3_5