Từ điển học thuật Khoa học xã hội

Các quốc gia thu nhập thấp và trung bình (LMICs) là gì?

Tiếng Anhlow- and middle-income countries

Tên gọi khácnước có thu nhập thấp và trung bìnhLMICs

Các quốc gia thu nhập thấp và trung bình (LMICs) là nhóm các nền kinh tế có tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người nằm dưới ngưỡng thu nhập cao theo hệ thống phân loại của Ngân hàng Thế giới.

Cập nhật 21/9/2026

Các quốc gia thu nhập thấp và trung bình là nhóm các nền kinh tế có mức tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người nằm trong các ngưỡng thu nhập thấp, thu nhập trung bình thấp hoặc thu nhập trung bình cao theo hệ thống phân loại phân tích của Ngân hàng Thế giới. Nhóm thực thể kinh tế này đại diện cho phần lớn dân số toàn cầu, đóng vai trò trung tâm trong các chương trình phát triển quốc tế, hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo và cải cách hệ thống an sinh xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý thuyết, công thức đo lường theo phương pháp Atlas, các đặc trưng phát triển cốt lõi, nguy cơ bẫy thu nhập trung bình cùng lộ trình chuyển đổi thực tiễn của Việt Nam.

Khái niệm và phương pháp xác định

Thuật ngữ các quốc gia thu nhập thấp và trung bình (low- and middle-income countries, viết tắt là LMICs) được Ngân hàng Thế giới và các định chế tài chính đa phương sử dụng rộng rãi nhằm phân loại các nền kinh tế phục vụ công tác phân tích hoạt động và điều phối chính sách tín dụng phát triển. Thay vì phân chia theo vị trí địa lý thuần túy hoặc các định danh mang tính định tính như các nước đang phát triển, hệ thống này thiết lập các ranh giới thu nhập cụ thể dựa trên chỉ số tổng thu nhập quốc dân (gross national income, GNI) bình quân đầu người.

Chỉ tiêu tổng thu nhập quốc dân và phương pháp Atlas

GNI đo lường tổng giá trị gia tăng của tất cả các nhà sản xuất thường trú trong nền kinh tế, cộng thêm mọi khoản thuế sản phẩm chưa tính trong giá trị đầu ra, cộng với các khoản thu nhập sơ cấp ròng nhận từ nước ngoài như tiền lương của lao động và thu nhập từ sở hữu tài sản. Để so sánh GNI bình quân đầu người giữa các quốc gia có đồng tiền khác nhau, Ngân hàng Thế giới áp dụng phương pháp Atlas thay vì sử dụng tỷ giá hối đoái thị trường đơn thuần.

Mục đích của phương pháp Atlas là làm mịn các biến động bất thường của tỷ giá hối đoái thị trường và hạn chế tác động của lạm phát ngắn hạn. Tỷ giá chuyển đổi Atlas được xác định bằng công thức trung bình trượt ba năm liên tiếp:

et∗=13[et+et−1pt/pt−1ptSDR/pt−1SDR+et−2pt/pt−2ptSDR/pt−2SDR]e_t^* = \frac{1}{3} \left[ e_t + e_{t-1} \frac{p_t / p_{t-1}}{p_t^{SDR} / p_{t-1}^{SDR}} + e_{t-2} \frac{p_t / p_{t-2}}{p_t^{SDR} / p_{t-2}^{SDR}} \right]

Trong công thức trên, et∗e_t^* là hệ số chuyển đổi Atlas cho năm tính toán tt, ete_t là tỷ giá hối đoái danh nghĩa chính thức trung bình năm của đồng nội tệ so với đồng đô la Mỹ, ptp_t là chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (GDP deflator) của quốc gia đó tại năm tt, và ptSDRp_t^{SDR} là chỉ số giảm phát giá quốc tế được tính bằng mức bình quân gia quyền chỉ số giảm phát GDP của các đồng tiền cấu thành Quyền rút vốn đặc biệt (SDR deflator). Sau khi tính được hệ số chuyển đổi, GNI bình quân đầu người yty_t được tính theo biểu thức:

yt=Yt/et∗Nty_t = \frac{Y_t / e_t^*}{N_t}

với YtY_t là tổng thu nhập quốc dân tính bằng đồng nội tệ danh nghĩa và NtN_t là dân số trung bình giữa năm của nền kinh tế. Nhờ cơ chế bù trừ chênh lệch lạm phát tương đối với quốc tế, chỉ số GNI bình quân đầu người theo phương pháp Atlas phản ánh xu hướng dài hạn ổn định hơn qua các năm.

Hệ thống phân loại bốn nhóm thu nhập

Hàng năm, vào ngày 01 tháng 07, Ngân hàng Thế giới cập nhật các ngưỡng phân loại thu nhập bằng cách điều chỉnh ngưỡng danh nghĩa theo tỷ lệ lạm phát quốc tế đo bằng chỉ số giảm phát SDR. Theo nghiên cứu phương pháp luận của Fantom và Serajuddin (2016), hệ thống này thiết lập bốn nhóm phân tích dựa trên mức GNI bình quân đầu người theo phương pháp Atlas:

Nhóm thu nhập Ranh giới phân loại phương pháp Atlas Đặc trưng kinh tế kỹ thuật cốt lõi Cơ chế hỗ trợ tài chính phát triển
Thu nhập thấp (Low-income) Nằm dưới ngưỡng giới hạn cho vay ưu đãi cơ bản Cơ cấu kinh tế phụ thuộc nông nghiệp tự cấp, tỷ lệ nghèo cùng cực cao, cơ sở hạ tầng hạn chế Các quốc gia nhận viện trợ không hoàn lại và tín dụng ưu đãi cao nhất
Thu nhập trung bình thấp (Lower-middle-income) Nằm giữa ngưỡng sàn cho vay và ngưỡng giới hạn trên của nhóm trung bình thấp Đang trong quá trình công nghiệp hóa ban đầu, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh Các quốc gia bắt đầu tiếp cận vốn vay hỗn hợp và giảm dần tài trợ viện trợ không hoàn lại
Thu nhập trung bình cao (Upper-middle-income) Nằm giữa ngưỡng trung bình thấp và ngưỡng thu nhập cao Năng suất lao động nâng cao, tích lũy vốn lớn, đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu Các nền kinh tế vay vốn thương mại quốc tế, chuẩn bị gia nhập nhóm thu nhập cao
Thu nhập cao (High-income) Vượt trên ngưỡng trần thu nhập cao Kinh tế tri thức, thể chế tài chính phát triển, mạng lưới an sinh xã hội vững chắc Các nền kinh tế phát triển không nằm trong nhóm LMICs

Khái niệm các quốc gia thu nhập thấp và trung bình bao hàm toàn bộ ba nhóm đầu tiên trong bảng trên, bao gồm nhóm thu nhập thấp, nhóm thu nhập trung bình thấp và nhóm thu nhập trung bình cao. Mặc dù được gộp chung để đối sánh với các quốc gia thu nhập cao, mức độ chênh lệch về tiềm lực kinh tế và hạ tầng công nghệ giữa các nền kinh tế trong nhóm LMICs là rất đáng kể.

Đặc điểm cấu trúc kinh tế và nhân khẩu học

Các quốc gia thu nhập thấp và trung bình chia sẻ nhiều đặc điểm phát triển tương đồng nhưng cũng bộc lộ những phân hóa nội tại sâu sắc khi tiến dần lên các nấc thang thu nhập cao hơn.

Cơ cấu lao động và quá trình chuyển dịch ngành

Tại các nền kinh tế thu nhập thấp và trung bình thấp, lực lượng lao động thường tập trung tỷ trọng lớn trong khu vực phi chính thức và sản xuất nông nghiệp thâm dụng lao động. Tỷ trọng đóng góp của khu vực nông nghiệp vào cơ cấu kinh tế tuy có xu hướng giảm dần qua các thập kỷ nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn đáng kể so với nhóm các nền kinh tế phát triển. Quá trình chuyển dịch lao động từ nông thôn sang thành thị diễn ra với tốc độ nhanh chóng, tạo ra áp lực nặng nề lên hạ tầng đô thị, nhà ở, nguồn cung năng lượng và xử lý ô nhiễm môi trường.

Khi các nền kinh tế vươn lên nhóm thu nhập trung bình cao, khu vực sản xuất chế biến, chế tạo và dịch vụ trở thành động lực tăng trưởng chính. Tuy nhiên, nhiều quốc gia phải đối mặt với tình trạng gia công lắp ráp với giá trị gia tăng nội địa thấp, phụ thuộc lớn vào đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn cung nguyên liệu nhập khẩu, chưa làm chủ được chuỗi cung ứng công nghệ cốt lõi.

Gánh nặng kép về y tế và an sinh xã hội

Một trong những đặc trưng nổi bật nhất của nhóm các quốc gia thu nhập thấp và trung bình là sự chuyển tiếp dịch tễ học phức tạp. Hệ thống y tế tại các quốc gia này phải đồng thời ứng phó với hai gánh nặng dịch bệnh song song:

  • Gánh nặng truyền thống: Các bệnh truyền nhiễm, suy dinh dưỡng bà mẹ trẻ em và các bệnh nhiệt đới bị lãng quên vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát cao tại các vùng kém phát triển.
  • Gánh nặng mới nổi: Sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, ung thư và rối loạn chuyển hóa do thay đổi lối sống, đô thị hóa và ô nhiễm môi trường.

Bên cạnh thách thức bệnh tật, cơ chế tài chính y tế tại nhiều quốc gia LMICs vẫn còn nhiều lỗ hổng lớn. Theo báo cáo của Ủy ban Lancet Global Health (Hanson và cộng sự, 2022) về tài chính y tế cơ sở, tỷ lệ chi tiền túi trực tiếp từ hộ gia đình vượt quá 40% tổng chi tiêu y tế tại nhiều quốc gia thu nhập thấp và trung bình thấp. Chi tiêu trực tiếp quá cao khiến hàng triệu người dân rơi vào tình cảnh nghèo hóa hoặc thảm họa tài chính mỗi khi gặp biến cố sức khỏe nghiêm trọng, cản trở mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Nghịch lý phân bổ đói nghèo toàn cầu

Trong nhiều thập kỷ trước đây, quan niệm phổ biến trong kinh tế học phát triển cho rằng phần lớn người nghèo trên thế giới tập trung sinh sống tại các quốc gia nghèo nhất, tức là các quốc gia thuộc nhóm thu nhập thấp. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của các quốc gia đông dân đã làm thay đổi căn bản cấu trúc địa lý của đói nghèo toàn cầu.

Sự dịch chuyển của người nghèo sang các nước thu nhập trung bình

Nghiên cứu của nhà kinh tế học Andy Sumner năm 2012 đã làm sáng tỏ một hiện tượng được gọi là nghịch lý đói nghèo mới. Nghiên cứu của Sumner (2012) chỉ ra rằng khoảng 74% người nghèo cùng cực trên toàn cầu sống tại các quốc gia thu nhập trung bình, thay vì tập trung ở các nước thu nhập thấp như trước đây. Hiện tượng này xuất hiện không phải vì người nghèo di cư xuyên biên giới, mà do các quốc gia đông dân như Ấn Độ, Indonesia, Nigeria và Trung Quốc đã nâng mức GNI bình quân đầu người vượt qua ngưỡng thu nhập thấp để bước vào nhóm thu nhập trung bình.

Khi một quốc gia chuyển từ nhóm thu nhập thấp lên thu nhập trung bình, toàn bộ dân số của quốc gia đó trên danh nghĩa thống kê được tính là đang sống trong một nền kinh tế thu nhập trung bình. Dẫu vậy, tăng trưởng kinh tế danh nghĩa không đồng nghĩa với việc xóa bỏ hoàn toàn bất bình đẳng. Hàng trăm triệu người dân vẫn tiếp tục sống dưới chuẩn nghèo dù quốc gia của họ đã được nâng hạng thu nhập.

Tiêu chí so sánh Mô hình phân bổ truyền thống Mô hình phân bổ giai đoạn mới
Địa bàn tập trung người nghèo Chủ yếu tập trung tại các quốc gia thu nhập thấp (LICs) Đa số sống tại các quốc gia thu nhập trung bình (MICs)
Bản chất bài toán đói nghèo Thiếu hụt nguồn lực quốc gia tuyệt đối, phụ thuộc viện trợ Bất bình đẳng phân phối thu nhập và khoảng cách vùng miền
Nguồn tài chính xóa nghèo chính Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ nhân đạo Huy động thuế nội địa, tái phân phối và chính sách phúc lợi
Trọng tâm chính sách toàn cầu Cung cấp nhu yếu phẩm và cứu trợ khẩn cấp Xây dựng thể chế dung hợp và bao phủ an sinh toàn dân

Nghịch lý này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xem xét lại chính sách viện trợ quốc tế. Các tổ chức tài trợ truyền thống thường cắt giảm viện trợ không hoàn lại khi một quốc gia đạt ngưỡng thu nhập trung bình, điều này vô tình tạo ra khoảng trống tài chính đối với các nhóm dân cư yếu thế vẫn còn kẹt lại trong cảnh nghèo đói cùng cực.

Nguy cơ bẫy thu nhập trung bình và rào cản phát triển

Một trong những thách thức lớn nhất mà các quốc gia thuộc nhóm thu nhập trung bình phải đối mặt là nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình (middle-income trap), tình trạng một nền kinh tế sau khi thoát khỏi mức thu nhập thấp bị đình trệ tăng trưởng và không thể thu hẹp khoảng cách để trở thành nền kinh tế thu nhập cao.

Cơ chế suy giảm đà tăng trưởng

Trong giai đoạn đầu phát triển từ mức thu nhập thấp, nền kinh tế có thể dễ dàng đạt tốc độ tăng trưởng cao nhờ khai thác các lợi thế cạnh tranh sẵn có: nguồn lao động dồi dào với chi phí thấp, khai thác tài nguyên thiên nhiên thô và chuyển giao công nghệ cơ bản từ nước ngoài. Tuy nhiên, khi mức thu nhập bình quân đầu người tăng lên, chi phí nhân công bắt đầu gia tăng, làm xói mòn lợi thế cạnh tranh trong các ngành sản xuất thâm dụng lao động trước các quốc gia thu nhập thấp hơn.

Đồng thời, nền kinh tế lại chưa tích lũy đủ nguồn vốn con người, năng lực nghiên cứu phát triển và thể chế sáng tạo để cạnh tranh trực tiếp với các nền kinh tế thu nhập cao trong các phân khúc sản phẩm có giá trị gia tăng lớn. Nghiên cứu thực nghiệm của Eichengreen, Park và Shin (2014) về các đợt giảm tốc tăng trưởng kinh tế chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng có xu hướng sụt giảm mạnh tại hai ngưỡng thu nhập bình quân khoảng 10.000 đến 11.000 USD và 15.000 đến 16.000 USD tính theo giá sức mua tương đương năm 2005. Hiện tượng sụt giảm này phản ánh khó khăn trong việc chuyển đổi động lực tăng trưởng từ mở rộng tích lũy vốn vật chất sang nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (total factor productivity, TFP).

Thách thức chuyển đổi nguồn vốn tài trợ quốc tế

Khi các nền kinh tế tiến lên các phân nhóm thu nhập cao hơn, chúng phải đối mặt với quy trình tốt nghiệp (graduation) khỏi các cơ chế tài chính ưu đãi quốc tế. Việc nâng hạng thu nhập dẫn tới các hệ quả tài chính trực tiếp:

  • Cắt giảm vốn vay ưu đãi: Lãi suất vay từ các định chế tài chính quốc tế tăng dần từ mức tượng trưng rất thấp sang mức lãi suất thương mại thị trường, thời hạn ân hạn và thời gian hoàn trả nợ bị rút ngắn đáng kể.
  • Thu hẹp nguồn viện trợ không hoàn lại: Các quỹ tài trợ quốc tế về y tế, giáo dục và ứng phó biến đổi khí hậu ưu tiên chuyển dịch dòng tiền sang các quốc gia thu nhập thấp còn lại.
  • Áp lực nợ công: Chi phí huy động vốn gia tăng buộc các chính phủ phải phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường trái phiếu quốc tế và nguồn thu thuế nội địa, tạo áp lực lớn lên nghĩa vụ trả nợ ngân sách quốc gia.

Bối cảnh và lộ trình chuyển đổi của Việt Nam

Tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam từ một quốc gia nghèo nàn, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu là minh chứng tiêu biểu cho sự chuyển mình của một nền kinh tế trong nhóm LMICs.

Cột mốc gia nhập và quá trình phát triển

Sau hơn hai thập kỷ thực hiện đường lối Đổi mới, Việt Nam chính thức vượt qua ngưỡng thu nhập thấp để gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp theo bảng phân loại của Ngân hàng Thế giới. Sự kiện nâng hạng này khẳng định thành tựu vượt bậc trong cải cách cơ cấu kinh tế, hội nhập thương mại quốc tế và giảm nghèo diện rộng.

Việc trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp cũng mở đầu cho lộ trình chuyển đổi căn bản trong quan hệ hợp tác tài chính quốc tế. Việt Nam đã tiến hành lộ trình tốt nghiệp Hiệp hội Phát triển Quốc tế (International Development Association, viết tắt là IDA), cửa sổ cho vay ưu đãi của Nhóm Ngân hàng Thế giới dành cho các nước nghèo, để chuyển sang sử dụng nguồn vốn từ Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển (International Bank for Reconstruction and Development, viết tắt là IBRD) với các điều kiện tài chính tiệm cận thị trường khi đạt các tiêu chuẩn tín nhiệm và ngưỡng thu nhập hoạt động.

Chiến lược vượt qua bẫy thu nhập trung bình

Để tiếp tục nâng cao thu nhập và hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao trong những thập kỷ tới, Việt Nam đang tập trung vào các định hướng chiến lược trọng tâm:

  • Chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Chuyển dịch từ tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên và nhân công giá rẻ sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện.
  • Nâng cấp chuỗi giá trị công nghiệp: Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn đa quốc gia nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, từng bước tham gia vào các khâu thiết kế, nghiên cứu phát triển và quản trị chuỗi cung ứng.
  • Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Cải cách căn bản hệ thống giáo dục đại học và đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghệ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và kinh tế xanh.
  • Củng cố mạng lưới an sinh xã hội: Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, hiện đại hóa hệ thống trợ giúp xã hội để đảm bảo mọi tầng lớp nhân dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển.

Hạn chế của hệ thống phân loại và các chỉ số bổ trợ

Mặc dù hệ thống phân loại theo GNI bình quân đầu người phương pháp Atlas mang lại tiêu chuẩn định lượng thống nhất và thuận tiện cho công tác so sánh quốc tế, phương pháp này tồn tại nhiều giới hạn cốt lõi đã được các chuyên gia kinh tế chỉ ra.

Những thiếu hụt của thước đo GNI Atlas

Thứ nhất, GNI bình quân đầu người là một chỉ tiêu trung bình số học, che giấu hoàn toàn tình trạng bất bình đẳng phân phối thu nhập trong xã hội. Một quốc gia có GNI bình quân đầu người cao vẫn có thể tồn tại hệ số bất bình đẳng Gini ở mức báo động, với phần lớn của cải tập trung trong tay một nhóm thiểu số trong khi đa số người dân sống trong cảnh thiếu thốn.

Thứ hai, phương pháp Atlas không tính đến sự khác biệt về sức mua tương đương (purchasing power parity, PPP) giữa các nền kinh tế. Chi phí hàng hóa và dịch vụ thiết yếu tại các nước đang phát triển thường rẻ hơn nhiều so với các nước thu nhập cao, do đó việc chuyển đổi theo tỷ giá Atlas có thể đánh giá thấp mức sống thực tế của người dân tại các nước LMICs.

Thứ ba, thước đo GNI chỉ phản ánh các dòng giao dịch kinh tế bằng tiền, hoàn toàn bỏ qua các giá trị suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và không tính toán các hoạt động kinh tế phi chính thức chưa được hạch toán đầy đủ trong tài khoản quốc gia.

Các khung đánh giá đa chiều thay thế

Để khắc phục những hạn chế của chỉ số thu nhập đơn thuần, cộng đồng quốc tế đã phát triển nhiều hệ thống chỉ tiêu bổ sung nhằm đánh giá phát triển con người một cách toàn diện:

  • Chỉ số Phát triển Con người (Human Development Index, HDI): Do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) thiết lập, kết hợp ba khía cạnh cơ bản gồm sức khỏe (tuổi thọ kỳ vọng), tri thức (năm đi học bình quân và kỳ vọng) cùng mức sống (GNI bình quân đầu người tính theo PPP).
  • Chỉ số Nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index, MPI): Đo lường các thiếu hụt trực tiếp mà các hộ gia đình gặp phải trong các lĩnh vực giáo dục, y tế và điều kiện sống cơ bản như nước sạch, vệ sinh và điện sinh hoạt.
  • Chỉ số Vốn con người (Human Capital Index, HCI): Do Ngân hàng Thế giới phát triển nhằm đo lường lượng vốn con người mà một đứa trẻ sinh ra hôm nay có thể kỳ vọng đạt được khi trưởng thành, dựa trên tỷ lệ sống sót của trẻ em, chất lượng giáo dục và tình trạng sức khỏe thể chất.

Hướng nghiên cứu và chính sách phát triển trong tương lai

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đối mặt với nhiều biến động địa chính trị, biến đổi khí hậu cực đoan và tốc độ phát triển đột phá của công nghệ tự động hóa, nhóm các quốc gia thu nhập thấp và trung bình đứng trước những yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc chiến lược phát triển.

Nghiên cứu kinh tế trong giai đoạn tới cần tập trung vào việc thiết kế các công cụ tài chính khí hậu công bằng, giúp các nước LMICs vừa duy trì tăng trưởng kinh tế vừa hoàn thành các cam kết giảm phát thải ròng. Đồng thời, cải cách thể chế nhằm nâng cao năng lực quản trị công, tính minh bạch và khả năng huy động nguồn thu thuế nội địa bền vững sẽ đóng vai trò quyết định, giúp các quốc gia này xây dựng năng lực tự chủ và tự cường trước các cú sốc bên ngoài.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số GNI bình quân đầu người theo phương pháp Atlas khác gì so với GDP bình quân thông thường?

GDP đo lường tổng sản phẩm tạo ra trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, trong khi GNI tính toán tổng thu nhập của công dân và tổ chức thuộc quốc gia đó bao gồm cả thu nhập sở hữu ròng từ nước ngoài. Phương pháp Atlas sử dụng tỷ giá hối đoái trung bình trượt 3 năm có hiệu chỉnh lạm phát tương đối thông qua chỉ số giảm phát SDR, giúp loại bỏ các biến động tỷ giá ngắn hạn và làm mịn chuỗi dữ liệu phục vụ so sánh quốc tế.

Nghịch lý đói nghèo của Andy Sumner phản ánh vấn đề gì tại các nước thu nhập trung bình?

Nghiên cứu của Andy Sumner chỉ ra rằng khoảng 74% người nghèo cùng cực trên thế giới hiện không sống ở các quốc gia thu nhập thấp mà tập trung tại các quốc gia thu nhập trung bình. Hiện tượng này phản ánh sự bất bình đẳng sâu sắc trong phân phối thành quả phát triển, cho thấy sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia chưa đồng nghĩa với việc giải quyết triệt để tình trạng nghèo đói nội bộ.

Các quốc gia thu nhập trung bình đối mặt với nguy cơ bẫy thu nhập trung bình ở những ngưỡng nào?

Theo nghiên cứu định lượng của Eichengreen, Park và Shin, tăng trưởng kinh tế của các quốc gia thu nhập trung bình có xu hướng đối mặt với nguy cơ suy giảm rõ rệt tại hai ngưỡng thu nhập là khoảng 10.000 đến 11.000 USD và 15.000 đến 16.000 USD tính theo giá sức mua tương đương năm 2005, do các lợi thế ban đầu về thâm dụng vốn và lao động cạn kiệt trong khi năng lực đổi mới sáng tạo chưa kịp hình thành.

Tài liệu tham khảo

  1. Fantom, N., & Serajuddin, U. (2016). The World Bank's Classification of Countries by Income. World Bank Policy Research Working Paper No. 7528. DOI: 10.1596/1813-9450-7528
  2. Sumner, A. (2012). Where Do The Poor Live?. World Development, 40(5), 865-877. DOI: 10.1016/j.worlddev.2011.09.007
  3. Eichengreen, B., Park, D., & Shin, K. (2014). Growth slowdowns redux. Japan and the World Economy, 32, 65-84. DOI: 10.1016/j.japwor.2014.07.003
  4. Hanson, K., Brikci, N., Erlangga, D., et al. (2022). The Lancet Global Health Commission on financing primary health care: putting people at the centre. The Lancet Global Health, 10(5), e715-e772. DOI: 10.1016/s2214-109x(22)00005-5