Từ điển học thuật

Bỏng nặng là gì? Các công bố khoa học về Bỏng nặng

Bỏng nặng là một loại chấn thương da và mô dưới da do tiếp xúc với nhiệt độ cao, các chất gây cháy, đóng thuốc hoặc tia X/ gamma. Bỏng nặng có thể gây ra tổn th...

355 lượt xem Cập nhật 12/9/2026

Bỏng nặng là một loại chấn thương da và mô dưới da do tiếp xúc với nhiệt độ cao, các chất gây cháy, đóng thuốc hoặc tia X/ gamma. Bỏng nặng có thể gây ra tổn thương nghiêm trọng cho da và các cấu trúc bên dưới, gây ra sưng, đau, loét, có thể làm suy giảm chức năng và vẻ đẹp của vùng bị bỏng. Việc chăm sóc bỏng nặng cần được thực hiện tức thì và thiết yếu để ngăn ngừa nhiễm trùng và giảm thiểu tổn thương.
Bỏng nặng là một loại bỏng cấp tính (acute burn) và thường gây ra tổn thương lớn đến da và các cấu trúc bên dưới. Các nguyên nhân gây bỏng nặng có thể là do tiếp xúc với nhiệt độ cao, các chất gây cháy, đồng điện, hoặc tia X/ gamma.

Có thể chia bỏng nặng thành ba loại dựa trên độ sâu của tổn thương da:

1. Bỏng nặng bề mặt: Đây là loại bỏng gây tổn thương đến lớp biểu bì và có thể lan rộng vào lớp biểu bì dưới. Da bị bỏng trở nên đỏ, đau, sưng và có thể hình thành bầm tím sau một thời gian. Vùng bỏng có thể có các vết sẹo và mất chức năng.

2. Bỏng nặng toàn bộ độ dày da: Loại bỏng này làm đến tất cả lớp biểu bì và biểu bì dưới. Vùng bỏng có màu trắng hoặc nâu, không đau vì tác nhân gây bỏng đã gây tổn thương mạch máu và dây thần kinh. Da bỏng có thể xếp chồng chất sần, do mất sự linh hoạt của da. Vết sẹo sau khi bỏng thường rỗ hoặc nhăn như vảy.

3. Bỏng nặng theo chiều sâu: Loại bỏng này có thể tiếp tục xâm nhập vào các cấu trúc bên dưới da như cơ, xương và mạch máu. Vùng da bị bỏng có thể có màu đen hoặc carbuncle. Bỏng nặng sâu thường gây ra mất chức năng và cần phẫu thuật để khắc phục.

Việc chăm sóc cho một bỏng nặng rất quan trọng để ngăn ngừa nhiễm trùng và giúp phục hồi tổn thương. Trong trường hợp bỏng nặng, nên gọi cấp cứu ngay lập tức và không tự ý chữa trị bỏng tại nhà.
Xin lỗi vì sự hiểu lầm. Dưới đây là thông tin chi tiết hơn về bỏng nặng:

1. Đánh giá độ sâu của bỏng: Để đánh giá độ sâu của bỏng nặng và quyết định liệu cần điều trị tại nhà hay cần đến bệnh viện, người ta sử dụng hệ thống đánh giá độ sâu của bỏng. Có hai phương pháp chính để đánh giá độ sâu của bỏng:

- Phương pháp Lund-Browder: Sử dụng cho trẻ em, phương pháp này đánh giá diện tích của mỗi phần của cơ thể theo nhóm tuổi để xác định tổng diện tích bỏng và độ sâu của bỏng.

- Phương pháp Rule of Nines: Sử dụng cho người lớn, phương pháp này chia cơ thể thành các vùng đều 9% (hoặc bội số của 9%) để xác định tổng diện tích bỏng và độ sâu của bỏng.

2. Quá trình điều trị bỏng nặng:
- Thiết lập đường vào tĩnh mạch: Trước khi điều trị bỏng nặng, việc thiết lập một đường vào tĩnh mạch là cần thiết để cung cấp chất lỏng và thuốc giảm đau cho bệnh nhân.

- Làm sạch và băng bó: Vùng bỏng cần được làm sạch bằng dung dịch muối sinh lý hoặc dung dịch xúc tác với áp suất thấp. Sau đó, vùng bỏng được phủ bằng vật liệu băng bó đặc biệt để giữ ẩm và ngăn ngừa nhiễm trùng.

- Sử dụng thuốc giảm đau: Bệnh nhân bị bỏng nặng thường được sử dụng các loại thuốc giảm đau mạnh để giảm đau và khó chịu. Loại thuốc được đưa ra quyết định dựa trên mức độ đau và tình trạng tổn thương.

- Chuyển điều trị hoặc phẫu thuật: Trong một số trường hợp, đặc biệt là khi tổn thương gây ra mất chức năng lớn hoặc tổn thương đe dọa tính mạng, bệnh nhân cần chuyển đến một bệnh viện hoặc được tiến hành phẫu thuật.

- Theo dõi và chăm sóc sau bỏng: Sau quá trình điều trị ban đầu, bệnh nhân cần theo dõi tổn thương, giữ vùng bỏng sạch sẽ, thay băng bó thường xuyên và thực hiện các biện pháp chăm sóc da phù hợp để đạt được phục hồi tốt nhất.

Lưu ý rằng việc chăm sóc và điều trị bỏng nặng là rất phức tạp và cần được tiến hành dưới sự giám sát của các chuyên gia y tế.

Các nghiên cứu khoa học về “bỏng nặng”

Công bố nổi bật trên thế giới và tại Việt Nam, kèm tóm tắt theo hướng chủ đề.

Mới nhất

  • Bước đầu mô tả đặc điểm một số chỉ số siêu âm tim ở bệnh nhân bỏng nặng trong 24 giờ đầu sau bỏng

    Đoàn Thị Hoàng Anh và cộng sự2025Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng

    AI tóm tắt

    Thăm dò huyết động học bằng siêu âm tim trên 15 bệnh nhân bỏng nặng trong ngày đầu nhập viện ghi nhận 66,67% trường hợp có tần số tim tăng nhanh. Đáng chú ý, toàn bộ các ca chưa được truyền dịch đầy đủ đều biểu hiện giảm cung lượng tim, giảm thể tích nhát bóp và hạ áp lực tĩnh mạch trung tâm. Nghiên cứu gợi ý siêu âm tim tại giường là công cụ hữu ích hỗ trợ theo dõi huyết động và hướng dẫn bù dịch kịp thời.

  • Đánh giá hiệu quả điều chỉnh huyết động theo mục tiêu ở người bệnh bỏng nặng dưới hướng dẫn của Uscom trong 72 giờ đầu sau bỏng

    Hoàng Văn Vụ và cộng sự2025Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng

    AI tóm tắt

    Hồi sức dịch thể theo mục tiêu dưới hướng dẫn của thiết bị USCOM trên 30 người bệnh bỏng nặng giúp điều chỉnh hiệu quả các chỉ số thể tích tuần hoàn và tiền gánh. Sau 72 giờ theo dõi, 100% người bệnh đạt mục tiêu huyết áp động mạch trung bình từ 65 mmHg trở lên và kiểm soát tốt áp lực tĩnh mạch trung tâm. Tác giả kết luận phương pháp hỗ trợ tối ưu hóa lượng dịch truyền và ngăn ngừa biến chứng quá tải tuần hoàn.

Trích dẫn nhiều nhất

  • Đặc điểm rối loạn chức năng các cơ quan theo thang điểm SOFA trên bệnh nhân bỏng nặng

    Trần Thị Dịu Hiền và cộng sự2025Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng

    AI tóm tắt

    Đo lường suy đa tạng theo thang điểm SOFA trên 119 bệnh nhân bỏng nặng cho thấy tỷ lệ rối loạn chức năng cơ quan lên tới 87,39% sau ba ngày điều trị. Rối loạn hệ hô hấp chiếm ưu thế lúc nhập viện và ngày thứ bảy, trong khi biến chứng huyết học xuất hiện nhiều nhất vào ngày thứ ba. Tác giả ghi nhận điểm đánh giá cơ quan tương quan thuận chặt chẽ với diện tích bỏng chung và diện tích bỏng sâu của người bệnh.

  • Nghiên cứu một số đặc điểm kháng thuốc của vi khuẩn và vi nấm phân lập trên bệnh nhân bỏng nặng điều trị tại Khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác

    Trần Đình Hùng và cộng sự2025Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng

    AI tóm tắt

    Khảo sát vi sinh cắt ngang từ 131 mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân bỏng nặng phát hiện vi khuẩn Gram âm chiếm ưu thế 68,7% và nấm chiếm 13,7%. Trong đó, chủng Acinetobacter baumannii kháng tuyệt đối 100% với meropenem và tụ cầu vàng MRSA chiếm 73,91%. Kết quả nhấn mạnh tỷ lệ kháng đa kháng sinh ở mức báo động, đòi hỏi giám sát kháng sinh đồ định kỳ và tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn tại các khoa hồi sức.

  • Đặc điểm rối loạn đông máu trong 24 giờ đầu ở bệnh nhân bỏng nặng tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác năm 2024

    Dương Văn Phú2025Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng

    AI tóm tắt

    Đặc điểm rối loạn đông máu trong 24 giờ đầu ở 104 bệnh nhân bỏng nặng ghi nhận 39,4% trường hợp tăng chỉ số INR và 29,8% kéo dài thời gian prothrombin. Các rối loạn đông máu sớm có liên quan chặt chẽ với diện tích bỏng sâu, tổn thương hô hấp và nồng độ lactat máu lúc nhập viện. Nghiên cứu chỉ ra tình trạng suy giảm đông máu sớm làm tăng nguy cơ tử vong và suy đa tạng trong giai đoạn cấp tính.

  • Đặc điểm xét nghiệm ROTEM ở bệnh nhân bỏng nặng có rối loạn đông máu

    Nguyễn Thị Mai Hương và cộng sự2025Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng

    AI tóm tắt

    Ứng dụng kỹ thuật đàn hồi cục máu đông ROTEM trên 35 người bệnh bỏng nặng phát hiện tình trạng giảm đông con đường nội sinh chiếm 30% ở giai đoạn sốc và 57,9% ở giai đoạn nhiễm trùng. Một số ca lâm sàng đồng thời xuất hiện cả biến đổi tăng đông lẫn giảm đông trên cùng mẫu xét nghiệm. Tác giả kết luận xét nghiệm hỗ trợ định hướng sớm thể rối loạn đông máu và bổ sung thông tin giá trị cho các xét nghiệm thường quy.

  • Nghiên cứu đặc điểm rối loạn đông máu ở bệnh nhân bỏng nặng trong 3 ngày đầu sau bỏng

    Trần Đình Hùng và cộng sự2025Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng

    AI tóm tắt

    Diễn tiến biến thiên đông máu trong ba ngày đầu ở 81 người bệnh bỏng nặng ghi nhận sự chuyển dịch từ giảm tiểu cầu ban đầu sang tình trạng tăng đông rõ rệt. Đến ngày thứ ba sau chấn thương, 77,03% ca bệnh bị hạ tiểu cầu nhưng 100% đối tượng đều có nồng độ fibrinogen tăng cao kèm chỉ số D-dimer vượt 500 µg/l. Tác giả nhận định rối loạn đông máu là biến chứng phổ biến diễn tiến phức tạp ngay trong giai đoạn sốc bỏng sớm.

Nổi bật tại Việt Nam

  • Cơ cấu và các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí điều trị bệnh nhân bỏng nặng.

    Nguyễn Quang Hiếu và cộng sự2022Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng1 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Tổng kết cơ cấu chi phí y tế trên nhóm bệnh nhân bỏng nặng ghi nhận tổng chi phí điều trị trung bình đạt 75,3 triệu đồng mỗi ca, trong đó bảo hiểm y tế chi trả 58,1%. Chi phí cho thuốc và vật tư tiêu hao chiếm tỷ trọng cao nhất với 43,2%, tiếp đến là phẫu thuật và thủ thuật chiếm 30,2%. Phân tích đa biến cho thấy diện tích tổn thương, diện tích bỏng sâu và biến chứng bỏng hô hấp là các yếu tố ảnh hưởng độc lập đến gánh nặng tài chính điều trị.

  • Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị của bệnh nhân bỏng nặng có biến chứng ARDS

    Trần Đình Hùng và cộng sự2022Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Phân tích hồi quy đa biến trên 66 bệnh nhân bỏng nặng có biến chứng suy hô hấp tiến triển ARDS ghi nhận tỷ lệ tử vong toàn bộ lên tới 62,12%. Nghiên cứu xác định bốn yếu tố nguy cơ độc lập ảnh hưởng đến tử vong gồm nồng độ lactate máu, số lượng tiểu cầu, độ giãn nở phổi tĩnh và áp lực chênh khi thông khí nhân tạo. Kết quả giúp bác sĩ hồi sức định hướng tiên lượng sớm và tối ưu hóa cài đặt máy thở.

  • Ảnh hưởng của tăng glucose máu đối với diễn biến và kết quả điều trị bệnh nhân bỏng nặng

    Nguyễn Hải An và cộng sự2021Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Theo dõi dọc tình trạng đường huyết ở bệnh nhân người lớn bỏng nặng ghi nhận 79,04% trường hợp xuất hiện tăng glucose máu với nồng độ trung bình 8,02 ± 1,80 mmol/l. Chỉ có 22,58% người bệnh đạt mức kiểm soát đường huyết tốt trong suốt quá trình điều trị nội trú. Đáng chú ý, nhóm kiểm soát glucose kém có tỷ lệ tử vong 22,92% trong khi không ghi nhận ca tử vong nào ở nhóm kiểm soát tốt.

  • Liều điều trị và tác dụng không mong muốn của Propranolol trên bệnh nhân người lớn bỏng nặng

    Nguyễn Như Lâm và cộng sự2021Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Nghiên cứu lâm sàng trên 62 bệnh nhân người lớn bỏng nặng xác định liều điều trị trung bình của thuốc propranolol là 1,85 ± 0,52/kg/ngày nhằm đạt mục tiêu giảm nhịp tim từ 15% đến 20%. Tác dụng không mong muốn thường gặp gồm hạ đường huyết ở 17,74%, hạ huyết áp chiếm 11,3% và chậm nhịp tim là 1,6%. Kết quả cho thấy liều thuốc không phụ thuộc vào tuổi, giới tính hay diện tích bỏng của người bệnh.

  • Hiệu quả của phương thức thông khí nhân tạo tư thế nằm sấp điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển trên bệnh nhân bỏng nặng (Thông báo lâm sàng).

    Nguyễn Hải An và cộng sự2021Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Báo cáo lâm sàng ghi nhận quá trình hồi sức thành công ở hai ca bệnh bỏng nặng xuất hiện biến chứng suy hô hấp cấp tiến triển mức độ nặng kết hợp bỏng hô hấp. Kỹ thuật thông khí nhân tạo tư thế nằm sấp được áp dụng nhằm cải thiện quá trình trao đổi oxy qua màng phế nang mao mạch. Dù đặt ra thách thức lớn trong chăm sóc vết thương, phương thức thông khí nằm sấp cho thấy hiệu quả hỗ trợ hô hấp khả quan ở người bệnh bỏng.

Mới nhất tại Việt Nam

  • ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỄM VI KHUẨN ĐA KHÁNG ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG

    Nguyễn Như Lâm và cộng sự2026Tạp chí Y - Dược học quân sự

    AI tóm tắt

    Quan sát tiến cứu trên 131 bệnh nhân bỏng nặng với 744 mẫu bệnh phẩm chỉ ra tình trạng nhiễm vi khuẩn đa kháng MDRb làm gia tăng rõ rệt tỷ lệ tử vong và chi phí nằm viện. Đáng chú ý, cấy máu dương tính với vi khuẩn đa kháng làm tăng nguy cơ tử vong 8,03 lần với độ đặc hiệu 93,67%. Nhiễm khuẩn huyết còn kéo dài đáng kể thời gian liền vết thương bỏng nông và thời gian điều trị hồi sức cấp cứu.

  • HIỆU QUẢ CỦA THÔNG KHÍ NẰM SẤP TRONG CẢI THIỆN OXY HÓA MÁU VÀ THANH THẢI CO₂ Ở BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG CÓ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN

    Lê Quang Thảo và cộng sự2026Tạp chí Y - Dược học quân sự

    AI tóm tắt

    Đánh giá can thiệp thông khí nằm sấp ở 48 người bệnh người lớn bỏng nặng biến chứng suy hô hấp cấp ARDS ghi nhận chỉ số PaO2/FiO2 tăng từ 128,0 lên 159,6 mmHg sau 16 giờ. Đồng thời, chỉ số oxy hóa máu OI giảm rõ rệt từ 17,10 xuống 14,66. Kết quả cho thấy thông khí tư thế nằm sấp giúp cải thiện trao đổi khí và tăng thanh thải khí carbonic, đặc biệt ở nhóm có tổn thương bỏng hô hấp kèm theo.