Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Bệnh động mạch chi dưới là gì? Thang điểm Fontaine và ABI

Tiếng Anhlower extremity peripheral artery disease

Tên gọi kháclower extremity peripheral artery diseaseLEADbệnh mạch máu ngoại biênPADxơ vữa động mạch chi dưới

Bệnh động mạch chi dưới là tình trạng bệnh lý mạch máu mạn tính đặc trưng bởi sự xơ vữa gây hẹp hoặc tắc nghẽn lòng các động mạch nuôi dưỡng chi dưới, dẫn đến giảm tưới máu mô và thiếu máu cục bộ cấp hoặc mạn tính.

352 lượt xem Cập nhật 13/9/2026

Bệnh động mạch chi dưới (lower extremity peripheral artery disease) là tình trạng bệnh lý mạch máu mạn tính đặc trưng bởi sự xơ vữa gây hẹp hoặc tắc nghẽn lòng các động mạch nuôi dưỡng chi dưới, dẫn đến giảm tưới máu mô và thiếu máu cục bộ cấp hoặc mạn tính.

1. Cơ chế sinh lý bệnh học và các yếu tố nguy cơ tim mạch

Bệnh động mạch chi dưới (thường được viết tắt là PAD hoặc LEAD) là một biểu hiện lâm sàng tại chỗ của quá trình xơ vữa động mạch mang tính hệ thống toàn thân. Quá trình bắt đầu từ tổn thương tế bào nội mô mạch máu dưới tác động của các yếu tố kích thích kéo dài như độc chất trong khói thuốc lá, nồng độ glucose máu tăng cao trong đái tháo đường, hoặc tăng huyết áp mạn tính. Rối loạn chức năng nội mô tạo điều kiện cho các hạt lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) xâm nhập vào lớp dưới nội mạc, bị oxy hóa và kích hoạt dòng thác đáp ứng viêm thu hút bạch cầu đơn nhân (monocytes).

Các bạch cầu thực bào biến thành tế bào bọt (foam cells), hình thành dải lipid và phát triển thành mảng xơ vữa phức tạp chứa lõi hoại tử giàu lipid, màng xơ collagen và lắng đọng canxi. Mảng xơ vữa tiến triển gây hẹp dần khẩu kính lòng mạch, làm giảm huyết áp tưới máu ngoại vi sau vị trí hẹp. Khi mảng xơ vữa bị nứt vỡ hoặc loét bề mặt, sự hình thành huyết khối cấp tính trên nền mảng xơ vữa có thể chuyển biến tình trạng thiếu máu mạn tính thành thiếu máu chi cấp đe dọa hoại tử chi khẩn cấp.

2. Bảng phân loại giai đoạn lâm sàng Fontaine và Rutherford

Để lượng hóa mức độ trầm trọng của tình trạng thiếu máu nuôi chi và định hướng chiến lược can thiệp tái thông, y học thế giới sử dụng hai bảng phân loại chuẩn mực:

Phân loại Fontaine Phân loại Rutherford Biểu hiện lâm sàng và triệu chứng Mức độ nghiêm trọng của bệnh
Giai đoạn I Cấp 0, Nhóm 0 Hoàn toàn không có triệu chứng lâm sàng, phát hiện qua đo ABI bất thường. Giai đoạn sớm, tiềm ẩn.
Giai đoạn IIa Cấp I, Nhóm 1 Đau cách hồi nhẹ: đi bộ được quãng đường dài trên 200 mét mới xuất hiện đau bắp chân. Đau cách hồi mức độ nhẹ.
Giai đoạn IIb Cấp I, Nhóm 2-3 Đau cách hồi trung bình - nặng: đau buộc phải dừng lại sau khi đi dưới 200 mét. Giới hạn vận động thể lực nghiêm trọng.
Giai đoạn III Cấp II, Nhóm 4 Đau khi nghỉ ngơi (Rest pain): đau liên tục vùng bàn chân và ngón chân, tăng khi nằm ngửa về đêm. Thiếu máu chi đe dọa mạn tính (CLTI).
Giai đoạn IV Cấp III, Nhóm 5-6 Loét dinh dưỡng không lành hoặc hoại tử đen ngón chân, hoại tử khô/ướt bàn chân. Nguy cơ cắt cụt chi rất cao.

3. Thăm dò chẩn đoán và chỉ số huyết áp cổ chân - cánh tay (ABI)

Quy trình chẩn đoán xác định bệnh động mạch chi dưới bắt đầu bằng phương pháp đo chỉ số huyết áp cổ chân - cánh tay (Ankle-Brachial Index - ABI) bằng đầu dò siêu âm Doppler mạch máu kết hợp huyết áp kế cơ học:

  • Cách tính ABI: Lấy huyết áp tâm thu cao nhất tại cổ chân (động mạch chày sau hoặc mu chân) chia cho huyết áp tâm thu cao nhất tại cánh tay.
  • ABI từ 0,91 đến 1,30: Bình thường.
  • ABI từ 0,41 đến 0,90: Hẹp động mạch mức độ nhẹ đến trung bình, thường tương ứng với triệu chứng đau cách hồi.
  • ABI dưới hoặc bằng 0,40: Thiếu máu cục bộ chi nặng, nguy cơ mất chi cao.
  • ABI trên 1,40: Động mạch bị vôi hóa xơ cứng lớp áo giữa (Mönckeberg sclerosis), thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường lâu năm hoặc suy thận mạn giai đoạn cuối, cần đo thêm chỉ số huyết áp ngón chân - cánh tay (Toe-Brachial Index - TBI).

Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu bao gồm siêu âm Duplex màu mạch máu, chụp cắt lớp vi tính đa dãy dựng hình mạch máu (CTA), chụp cộng hưởng từ mạch máu (MRA) và chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) — tiêu chuẩn vàng hướng dẫn can thiệp nội mạch.

4. Chiến lược điều trị nội khoa toàn diện và can thiệp tái thông mạch máu

Điều trị bệnh động mạch chi dưới bao gồm hai mục tiêu song song: phòng ngừa biến cố tim mạch toàn thân và phục hồi tuần hoàn tưới máu chi:

  1. Kiểm soát nguy cơ tim mạch tối ưu: Cai nghiện thuốc lá tuyệt đối; sử dụng thuốc statin hoạt lực cao nhằm hạ LDL-C xuống dưới ngưỡng mục tiêu nghiêm ngặt; liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu đơn (aspirin hoặc clopidogrel) hoặc phối hợp kháng đông liều thấp rivaroxaban; kiểm soát chặt chẽ huyết áp và đường huyết.
  2. Chương trình tập luyện đi bộ có giám sát (Supervised Exercise Therapy - SET): Là khuyến cáo nhóm I cho bệnh nhân đau cách hồi, giúp tăng sinh tuần hoàn bàng hệ và cải thiện quãng đường đi bộ không đau.
  3. Can thiệp nội mạch qua da (Endovascular Interventions): Phương pháp xâm lấn tối thiểu nong bóng phủ thuốc (Drug-Coated Balloon - DCB) và đặt giá đỡ kim loại phủ thuốc (Drug-Eluting Stent - DES) hoặc thiết bị nạo phá mảng xơ vữa (Atherectomy).
  4. Phẫu thuật bắc cầu mạch máu (Bypass Surgery): Sử dụng tĩnh mạch hiển tự thân hoặc mạch máu nhân tạo PTFE bắc cầu nối vượt qua đoạn động mạch bị tắc nghẽn phức tạp kéo dài.

Câu hỏi thường gặp

Triệu chứng đau cách hồi (intermittent claudication) biểu hiện như thế nào?

Là cảm giác đau thắt cơ hoặc chuột rút ở bắp chân xuất hiện khi đi lại vận động và biến mất hoàn toàn sau vài phút nghỉ ngơi.

Chỉ số huyết áp cổ chân - cánh tay (ABI) dưới bao nhiêu thì được chẩn đoán mắc bệnh?

Chỉ số ABI dưới 0,90 được coi là tiêu chuẩn chẩn đoán xác định bệnh động mạch chi dưới với độ nhạy và độ đặc hiệu trên chín mươi phần trăm.

Các phương pháp can thiệp nội mạch tái thông mạch máu chi dưới gồm những gì?

Bao gồm nong lòng mạch bằng bóng phủ thuốc (DCB), đặt giá đỡ kim loại phủ thuốc (DES) và thiết bị nạo phá mảng xơ vữa qua da.

Các nghiên cứu khoa học về “Bệnh động mạch chi dưới”

Công bố nổi bật trên thế giới và tại Việt Nam, kèm tóm tắt theo hướng chủ đề.

Mới nhất

Trích dẫn nhiều nhất

Nổi bật tại Việt Nam

  • TRẦM CẢM VÀ LO ÂU Ở NGƯỜI BỆNH TẮC HẸP ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH

    Trần Thanh Vỹ và cộng sự2024Tạp chí Y học Việt Nam0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Khảo sát sức khỏe tâm thần ở 77 người bệnh nội trú mắc tắc hẹp động mạch chi dưới mạn tính tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, nghiên cứu mô tả cắt ngang áp dụng thang đo chuẩn hóa HADS. Tỷ lệ trầm cảm và lo âu lần lượt là 25,97% và 23,38%, tập trung ở người bệnh cao tuổi có loét hoại tử chi. Nhóm nghiên cứu kết luận rối loạn lo âu và trầm cảm chiếm tỷ lệ cao ở bệnh nhân mạch máu ngoại vi, đòi hỏi hỗ trợ tâm lý đi kèm.

  • KHẢO SÁT KIẾN THỨC VỀ ẢNH HƯỞNG SỨC KHỎE VÀ Ý ĐỊNH TỪ BỎ THUỐC LÁ Ở NGƯỜI BỆNH TẮC HẸP ĐỘNG MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

    Phạm Thị Xuân Thảo và cộng sự2024Tạp chí Y học Việt Nam0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Khảo sát nhận thức tác hại thuốc lá ở 47 người bệnh tắc hẹp động mạch mạn tính chi dưới, nghiên cứu mô tả cắt ngang qua phỏng vấn ghi nhận điểm kiến thức chung chỉ đạt 2,68/8 và tác hại mạch máu là 1,57/4. Đáng chú ý có tới 83,33% người đang hút thuốc bày tỏ ý định bỏ thuốc. Tác giả kết luận người bệnh có động lực cai thuốc cao dù kiến thức còn hạn chế, nhấn mạnh nhân viên y tế cần tích cực hỗ trợ quá trình bỏ thuốc.

  • Kết quả can thiệp ngược dòng tổn thương tắc mạn tính động mạch chi dưới tại Bệnh viện Tim Hà Nội

    Hoàng Minh Lợi và cộng sự2023Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Ứng dụng kỹ thuật tiếp cận ngược dòng ở 27 bệnh nhân mắc bệnh động mạch chi dưới phức tạp (96,3% tổn thương TASC II độ C-D), nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện Tim Hà Nội ghi nhận thành công kỹ thuật đạt 100%. Mở đường vào mạch máu đoạn xa dưới siêu âm chiếm 92,6% và đặt stent chiếm 77,8%, duy trì thông mạch 83,3% sau 6 tháng. Tác giả kết luận can thiệp ngược dòng là kỹ thuật an toàn và hiệu quả cao, dù tỷ lệ giả phình chiếm 7,4%.

  • Đặc điểm rối loạn lipid máu ở người mắc bệnh động mạch chi dưới

    Ngọc Thanh Kim và cộng sự2023Tạp chí Tim mạch học Việt Nam0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Đánh giá rối loạn lipid máu ở 229 bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới tại Viện Tim mạch Bạch Mai, nghiên cứu mô tả cắt ngang ghi nhận 63,3% ca có tổn thương Rutherford độ IV-VI. Tỷ lệ giảm HDL-C đạt 50,2% và tăng triglycerid là 42,8%, nhưng chỉ 5,2% người bệnh dùng rosuvastatin liều cao 20 mg. Tác giả kết luận rối loạn mỡ máu rất thường gặp nhưng chưa kiểm soát tối ưu, dù nghiên cứu chưa theo dõi tuân thủ lâu dài.

  • KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

    Huỳnh Lâm Thiện Quốc và cộng sự2023Tạp chí Y Dược học Cần Thơ0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Khảo sát tổn thương mạch ngoại vi trên 53 bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nghiên cứu mô tả cắt ngang ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh động mạch chi dưới lên tới 81,1%. Triệu chứng phổ biến là tê chi (88,4%) và đau cách hồi (72,1%), tổn thương tập trung ở cẳng chân (63,16%) cùng 9,3% loét độ I theo thang Wagner. Tác giả kết luận xơ vữa chi dưới ở người đái tháo đường rất phổ biến và ưu thế ở cẳng chân, dù cỡ mẫu chưa đủ lớn.

Mới nhất tại Việt Nam

Tài liệu tham khảo

  1. Putri (2022). The Effect of Endovascular Revascularization on Ankle Brachial Index (ABI) Value in Patients with Peripheral Artery Disease: A Systematic Review. Research Review. DOI: 10.52845/cmro/2022/5-12-2
  2. Sung (2023). False Normalization of Ankle Brachial Index: A Case of Lower Extremity Peripheral Arterial Disease with Normal Ankle-Brachial Index. Journal of Neurosonology and Neuroimaging. DOI: 10.31728/jnn.2023.00138
  3. Cicconi (2024). Ankle brachial index for the diagnosis of asymptomatic lower extremity peripheral arterial disease. Bleeding, Thrombosis and Vascular Biology. DOI: 10.4081/btvb.2024.128