Động mạch phế quản (tiếng Pháp: artères bronchiques; tiếng Anh: bronchial arteries) là các nhánh mạch máu thuộc hệ tuần hoàn hệ thống có nhiệm vụ cung cấp máu giàu oxy và chất dinh dưỡng nuôi dưỡng nhu mô phổi, phế quản, thành mạch máu phổi và các hạch bạch huyết trung thất. Khác biệt cơ bản với hệ động mạch phổi (vốn đảm nhiệm chức năng trao đổi khí cho toàn cơ thể), động mạch phế quản hoạt động dưới áp lực động mạch hệ thống cao và giữ vai trò trung tâm trong sinh lý bệnh của các trường hợp ho ra máu nặng đe dọa tính mạng.
Giải phẫu học và các biến thể phân nhánh
Giải phẫu của động mạch phế quản có tính biến thiên rất cao giữa các cá thể:
- Nguyên ủy giải phẫu chuẩn: Động mạch phế quản thường xuất phát trực tiếp từ đoạn quai hoặc đoạn ngực trên của động mạch chủ ngực xuống, ngang mức đốt sống ngực T5 đến T6.
- Các mô hình phân nhánh điển hình (Phân loại Cauldwell):
- Mô hình phổ biến nhất (khoảng 40%): Gồm 2 nhánh động mạch phế quản bên trái (xuất phát từ động mạch chủ) và 1 nhánh động mạch phế quản bên phải (thường xuất phát từ thân chung động mạch liên sườn - phế quản phải ICBT).
- Mô hình 2 nhánh (khoảng 20%): Gồm 1 nhánh trái và 1 thân chung liên sườn - phế quản phải.
- Mô hình 4 nhánh: Gồm 2 nhánh phế quản trái và 2 nhánh phế quản phải.
- Động mạch phế quản lạc chỗ (Ectopic Bronchial Arteries): Khoảng 20% đến 30% nhánh phế quản có thể xuất phát từ các vị trí bất thường ngoài động mạch chủ ngực đoạn chuẩn, bao gồm quai động mạch chủ, động mạch dưới đòn, động mạch vú trong, thân cánh tay đầu hoặc động mạch giáp dưới.
Sinh lý học và tuần hoàn bàng hệ phổi
Tuần hoàn phế quản chỉ chiếm khoảng 1% đến 2% tổng cung lượng tim trong điều kiện sinh lý bình thường. Tuy nhiên, khi có tình trạng thiếu máu cục bộ hoặc viêm mạn tính nhu mô phổi (như trong giãn phế quản, lao phổi, u nấm Aspergillus hoặc ung thư phế quản):
- Tăng sinh mạch và phì đại động mạch: Quá trình viêm mạn kích thích giải phóng ồ ạt các yếu tố sinh mạch (VEGF, bFGF), làm động mạch phế quản giãn nở ngoằn ngoèo, tăng đường kính gấp nhiều lần và phát triển mạng lưới mạch máu tân tạo dày đặc.
- Hình thành các cầu nối thông nối (Shunts): Phát triển mạng lưới thông nối bàng hệ rộng lớn giữa động mạch phế quản (áp lực cao) và tĩnh mạch phế quản hoặc tiểu động mạch phổi (áp lực thấp).
Bệnh học ho ra máu và nút mạch động mạch phế quản (BAE)
Do chịu trực tiếp áp lực tuần hoàn hệ thống cao, khi thành các nhánh tân mạch phế quản bị hoại tử hoặc ăn mòn bởi ổ viêm lao/nhiễm trùng, máu sẽ vỡ ồ ạt vào lòng phế quản gây ho ra máu sét đánh:
- Vai trò trong ho ra máu: Khoảng 90% các trường hợp ho ra máu nặng có nguồn gốc chảy máu từ động mạch phế quản, chỉ khoảng 10% bắt nguồn từ hệ động mạch phổi.
- Can thiệp nút mạch động mạch phế quản (BAE - Bronchial Artery Embolization): Là kỹ thuật điện quang can thiệp xâm lấn tối thiểu cứu mạng hàng đầu hiện nay. Dưới hướng dẫn của máy chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), bác sĩ luồn vi ống thông chọn lọc vào nhánh động mạch phế quản chảy máu và bơm các vật liệu tắc mạch (như hạt vi cầu PVA, gelfoam hoặc coil kim loại) để cầm máu tức thì.
- Lưu ý an toàn tránh biến chứng tủy sống: Phẫu thuật viên can thiệp bắt buộc phải xác định và bảo tồn cẩn trọng động mạch tủy trước (động mạch Adamkiewicz) thường có thể bắt nguồn từ thân động mạch liên sườn - phế quản, nhằm tránh tuyệt đối tai biến nhồi máu tủy gây liệt hai chi dưới.