Đề kháng insulin (insulin resistance) là tình trạng rối loạn sinh lý bệnh trong đó các mô đích ngoại vi nhạy cảm với insulin—chủ yếu bao gồm mô cơ vân, mô gan và mô mỡ—bị suy giảm đáp ứng sinh học bình thường với nồng độ insulin tuần hoàn. Để duy trì cân bằng đường huyết trong giới hạn sinh lý, các tế bào của đảo tụy phải tăng tiết insulin bù trừ (hyperinsulinemia), dẫn tới nguy cơ kiệt quệ chức năng tế bào và khởi phát bệnh đái tháo đường typ 2 cùng hàng loạt biến cố tim mạch.
Cơ chế phân tử của con đường truyền tín hiệu insulin
Ở trạng thái bình thường, insulin gắn vào thụ thể insulin xuyên màng (Insulin Receptor - IR, một phức hệ tetramer có hoạt tính tyrosine kinase), kích hoạt chuỗi truyền tín hiệu nội bào:
1. Con đường truyền tín hiệu chuyển hóa PI3K/Akt
Thụ thể IR tự phosphoryl hóa các gốc tyrosine ở chuỗi , sau đó tuyển mộ và phosphoryl hóa tyrosine của các protein cơ chất thụ thể insulin (IRS-1 và IRS-2). IRS-1/2 gắn với enzyme Phosphoinositide 3-kinase (PI3K), xúc tác chuyển đổi thành , qua đó kích hoạt Protein Kinase B (Akt/PKB). Akt hoạt hóa kích thích các túi chứa kênh vận chuyển glucose GLUT4 chuyển vị từ bào tương hòa nhập vào màng sinh chất, mở kênh cho glucose khuếch tán vào trong tế bào cơ và tế bào mỡ.
2. Cơ chế ức chế tín hiệu trong đề kháng insulin
Trong tình trạng thừa cân béo phì và dư thừa năng lượng, nồng độ acid béo tự do (FFA) và các cytokine tiền viêm (TNF-, IL-6) tăng cao trong tuần hoàn. Chúng kích hoạt các serine/threonine kinase nội bào bao gồm Protein Kinase C (), IKK và JNK1. Các kinase này phosphoryl hóa gốc Serine/Threonine trên IRS-1 thay vì gốc Tyrosine, làm bất hoạt phân tử IRS-1 và ngăn cản tín hiệu PI3K/Akt, khiến kênh GLUT4 không thể chuyển vị lên bề mặt tế bào.
Định lượng đề kháng insulin bằng chỉ số HOMA-IR
Kỹ thuật kẹp đường huyết đẳng insulin (Hyperinsulinemic-euglycemic clamp) của DeFronzo được xem là tiêu chuẩn vàng nghiên cứu nhưng quá phức tạp và xâm lấn. Trong thực hành lâm sàng và dịch tễ học, chỉ số HOMA-IR (Homeostatic Model Assessment of Insulin Resistance) do Matthews và cộng sự (1985) phát triển được áp dụng rộng rãi:
Nếu nồng độ glucose máu đo bằng đơn vị , mẫu số quy đổi tương đương là 405:
Ngưỡng tham chiếu lâm sàng:
- : Độ nhạy insulin bình thường.
- : Bắt đầu có dấu hiệu đề kháng insulin nhẹ.
- : Đề kháng insulin rõ rệt, nguy cơ cao tiến triển đái tháo đường và gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD/MASLD).
Biểu hiện bệnh học tại các cơ quan đích
| Cơ quan đích | Hậu quả sinh học của đề kháng insulin | Biểu hiện bệnh lý lâm sàng |
|---|---|---|
| Cơ xương (Skeletal Muscle) | Giảm 50% đến 70% khả năng thu nạp và tổng hợp glycogen từ glucose | Tăng đường huyết sau ăn, teo khối cơ nạc |
| Gan (Liver) | Mất ức chế quá trình tân tạo đường (gluconeogenesis) và phân giải glycogen; kích hoạt tăng tổng hợp triglyceride (de novo lipogenesis) | Tăng đường huyết lúc đói, gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa (MASLD/MASH) |
| Mô mỡ (Adipose Tissue) | Mất ức chế enzyme lipase nhạy cảm hormone (HSL), giải phóng ồ ạt acid béo tự do (FFA) vào máu | Rối loạn lipid máu (tăng Triglyceride, giảm HDL-C, tăng LDL nhỏ đậm đặc) |
| Nội mạc mạch máu (Endothelium) | Giảm sản xuất Nitric Oxide (NO) gây giãn mạch, tăng biểu hiện phân tử bám dính tế bào (VCAM-1, ICAM-1) | Tăng huyết áp thứ phát, thúc đẩy tiến triển mảng xơ vữa động mạch |
Chiến lược can thiệp và cải thiện độ nhạy insulin
- Canh tân lối sống và rèn luyện thể lực: Hoạt động co cơ khi tập luyện thể dục (đặc biệt là bài tập kháng lực kết hợp bài tập aerobic 150 phút/tuần) kích hoạt con đường tín hiệu AMPK độc lập với insulin, thúc đẩy trực tiếp kênh GLUT4 chuyển vị lên màng, tăng cường độ nhạy insulin kéo dài từ 24 đến 48 giờ sau buổi tập.
- Kiểm soát cân nặng và dinh dưỡng: Giảm 5% đến 10% trọng lượng cơ thể giúp giảm đáng kể lượng mỡ nội tạng và mỡ lạc chỗ tại gan và cơ. Chế độ ăn giảm chỉ số đường huyết (low-GI) giàu chất xơ hòa tan giúp giảm tải bài tiết insulin của tụy.
- Dược lý học cải thiện độ nhạy insulin:
- Metformin (nhóm Biguanide): Hoạt hóa AMPK tại gan, ức chế tân tạo glucose và cải thiện độ nhạy insulin ngoại vi.
- Thiazolidinediones (Pioglitazone): Đồng vận thụ thể hạt nhân PPAR-, tái phân bố mỡ từ nội tạng sang mô mỡ dưới da, giảm nồng độ FFA lưu hành.
- Thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 (GLP-1 RA) và ức chế SGLT2: Giảm cân mạnh mẽ, bảo vệ tim thận và cải thiện gián tiếp tình trạng kháng insulin toàn thân.