Using PLS path modeling in new technology research: updated guidelines Tập 116 Số 1 - Trang 2-20 - 2016
Jörg Henseler, Geoffrey S. Hubona, Pauline Ash Ray
Purpose – Partial least squares (PLS) path modeling is a variance-based
structural equation modeling (SEM) technique that is widely applied in business
and social sciences. Its ability to model composites and factors makes it a
formidable statistical tool for new technology research. Recent reviews,
discussions, and developments have led to substantial changes in the
understanding and use of PLS. ... hiện toàn bộ
Đánh giá cập nhật và mở rộng về PLS-SEM trong nghiên cứu hệ thống thông tin Dịch bởi AI Tập 117 Số 3 - Trang 442-458 - 2017
Joe F. Hair, Carole L. Hollingsworth, Adriane B. Randolph, Alain Yee‐Loong Chong
Mục đích Nhằm thực hiện lời kêu gọi nâng cao nhận thức về các phương pháp báo
cáo đã được chấp nhận của Ringle, Sarstedt và Straub vào năm 2012, mục đích của
bài báo này là xem xét và phân tích việc sử dụng mô hình phương trình cấu trúc
hồi quy suy diễn theo phần (PLS-SEM) trong tạp chí Quản lý Công nghiệp & Hệ
thống Thông tin (IMDS) và mở rộng các ứng dụng của tạp chí Quản lý Thông tin Hệ
thống (... hiện toàn bộ
Chấp nhận của người dùng đối với dịch vụ nhà thông minh: Mở rộng lý thuyết hành vi có kế hoạch Dịch bởi AI Tập 117 Số 1 - Trang 68-89 - 2017
Heetae Yang, Hwansoo Lee, Hangjung Zo
Mục đích Mục đích của bài báo này là phát triển một mô hình nghiên cứu toàn diện
có thể giải thích ý định hành vi của khách hàng tiềm năng trong việc chấp nhận
và sử dụng dịch vụ nhà thông minh. Thiết kế/phương pháp/tiếp cận Nghiên cứu này
đề xuất và xác thực một mô hình lý thuyết mới mở rộng lý thuyết hành vi có kế
hoạch. Phân tích phương pháp bình phương nhỏ nhất được sử dụng để kiểm tra mô
hình... hiện toàn bộ
HTMT2 – một tiêu chí cải tiến để đánh giá tính phân biệt trong mô hình phương trình cấu trúc Dịch bởi AI Tập 121 Số 12 - Trang 2637-2650 - 2021
Ellen Roemer, Florian Schuberth, Jörg Henseler
Mục đíchMột phương pháp phổ biến để đánh giá tính phân biệt trong mô hình phương
trình cấu trúc là tỷ lệ tương quan heterotrait-monotrait (HTMT). Tuy nhiên, HTMT
giả định các mô hình đo lường tương đương tau, điều này khó có thể xảy ra trong
hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm. Để nới lỏng giả định này, các tác giả đã
chỉnh sửa HTMT nguyên bản và giới thiệu một thước đo nhất quán mới cho các mô
hìn... hiện toàn bộ
Ứng dụng di động dịch vụ: Góc nhìn từ thế hệ Millennials Dịch bởi AI Tập 118 Số 9 - Trang 1837-1860 - 2018
Steven Leon
Mục đích Mục đích của bài báo này là đánh giá ý định của thế hệ Millennials
trong việc sử dụng các ứng dụng di động dịch vụ và đánh giá giới tính như một
yếu tố điều tiết. Thiết kế/phương pháp tiếp cận Mô hình chấp nhận công nghệ mở
rộng, bao gồm chất lượng thông tin và khả năng tự quản lý, đã hướng dẫn nghiên
cứu này. PLS-SEM được sử dụng để đánh giá dữ liệu và kiểm tra các giả thuyết.
Kết quả Ng... hiện toàn bộ
Điều phối trong chuỗi cung ứng sản phẩm xanh phức hợp dưới các cấu trúc quyền lực khác nhau Dịch bởi AI Tập 120 Số 6 - Trang 1101-1123 - 2020
Gaoxiang Lou, Zhixuan Lai, Haicheng Ma, Tijun Fan
Mục đíchMục đích của bài báo này là tìm ra cấu trúc quyền lực tối ưu, điều khiển
các hoạt động xanh trong chuỗi cung ứng và phối hợp chi phí cũng như lợi ích của
các hoạt động xanh trong chuỗi cung ứng dưới các cấu trúc quyền lực khác
nhau.Thiết kế/phương pháp tiếp cậnBài báo này phát triển một chuỗi cung ứng gồm
một nhà cung cấp và một nhà sản xuất, trong đó nhà cung cấp và nhà sản xuất chịu
trác... hiện toàn bộ
Perception variability for categorised risk factors Tập 112 Số 4 - Trang 600-618 - 2012
UdechukwuOjiako, ThanosPapadopoulos, ChonnikarnThumborisuthi, YunFan Yang
PurposeThis paper aims to examine how project managers frame variability for
categorised risk factors on enterprise resource planning (ERP)
projects.Design/methodology/approachWeighting and selection of the risk factors
was undertaken based on an analysis of data (using PASW17), obtained from a
random sample of 307 ERP project managers working in Thailand.FindingsThe
findings suggest that: framing... hiện toàn bộ
Giảm thiểu rủi ro giảm hiệu quả hoạt động của cảng biển do sự chậm trễ trong việc tàu cập bến Dịch bởi AI Tập 118 Số 7 - Trang 1498-1509 - 2018
Zhengxu Wang, Chonghui Guo
Mục đích Trong ngành công nghiệp cảng biển, sự chậm trễ trong việc tàu cập bến
là điều không thể tránh khỏi do nhiều yếu tố, chẳng hạn như thời tiết, sự chậm
trễ do các điểm dừng trước đó, v.v. Thời gian chậm trễ có thể ngắn tới 15 phút
hoặc dài tới vài ngày. Điều này gây ra sự gián đoạn cho các hoạt động hàng hải
đã được lên kế hoạch, và quan trọng hơn là ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn lực.
Tro... hiện toàn bộ