Thuốc tim mạch (cardiovascular drugs / agents) là tập hợp các nhóm thuốc dược lý chuyên biệt tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên hệ thống cơ tim, mạng lưới mạch máu tuần hoàn và hệ thống nút thần kinh tự chủ điều hòa tim mạch. Nhóm thuốc này đóng vai trò then chốt trong kiểm soát tăng huyết áp, điều trị suy tim sung huyết, phòng ngừa thứ phát hội chứng mạch vành cấp, kiểm soát rối loạn nhịp và giảm biến cố tử vong tim mạch.
Phân loại các nhóm thuốc tim mạch chính theo cơ chế dược lý
1. Thuốc tác động lên hệ Renin-Angiotensin-Aldosterone (RAAS)
- Thuốc ức chế men chuyển (ACE inhibitors - Captopril, Enalapril, Perindopril): Ức chế enzyme chuyển Angiotensin I thành Angiotensin II, ngăn chặn co mạch và giảm tiết aldosterone. Do ngăn chặn sự phân hủy bradykinin, khoảng 10% đến 15% người dùng có thể gặp tác dụng phụ ho khan.
- Thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II (ARBs - Losartan, Valsartan, Telmisartan): Đối kháng chọn lọc tại thụ thể , mang lại hiệu quả giãn mạch tương đương ACEi nhưng không gây tích tụ bradykinin, ít tác dụng phụ ho khan hơn.
- Thuốc ức chế thụ thể Angiotensin - Neprilysin (ARNI - Sacubitril/Valsartan): Phối hợp ức chế thụ thể và ức chế enzyme neprilysin (ngăn giáng hóa các peptid lợi niệu BNP/ANP), làm giãn mạch mạnh mẽ và đảo ngược tái cấu trúc thất trái.
2. Thuốc chẹn thụ thể beta-adrenergic (Beta-blockers)
Bao gồm Bisoprolol, Metoprolol succinate, Carvedilol, Nebivolol. Cơ chế cạnh tranh gắn vào thụ thể -adrenergic ở cơ tim và nút xoang, giúp giảm nhịp tim, giảm sức co bóp cơ tim, giảm tiêu thụ oxy cơ tim và ức chế bài tiết renin tại thận. Là chỉ định bắt buộc trong suy tim mạn ổn định, sau nhồi máu cơ tim và kiểm soát cơn đau thắt ngực.
3. Thuốc chẹn kênh calci (Calcium Channel Blockers - CCBs)
- Nhóm Dihydropyridine (DHP-CCBs - Amlodipine, Felodipine, Nifedipine): Tác động chọn lọc cao trên kênh calci loại L ở tế bào cơ trơn thành mạch máu, gây giãn tiểu động mạch và hạ huyết áp hiệu quả.
- Nhóm Non-Dihydropyridine (Diltiazem, Verapamil): Tác động ưu thế lên nút xoang nhĩ và nút nhĩ thất của tim, làm chậm dẫn truyền và giảm co bóp cơ tim, dùng kiểm soát tần số thất trong rung nhĩ.
4. Thuốc đối vận thụ thể Mineralocorticoid (MRAs)
Bao gồm Spironolactone, Eplerenone và thuốc không steroid thế hệ mới Finerenone. Chúng ức chế tác dụng giữ muối nước và gây xơ hóa tim thận của Aldosterone tại ống lượn xa và ống góp, làm tăng bài tiết natri, giữ kali và ngăn ngừa phì đại thất trái.
5. Thuốc ức chế đồng vận chuyển Natri-Glucose 2 (SGLT2 inhibitors)
Bao gồm Dapagliflozin, Empagliflozin. Ban đầu được phát triển để điều trị đái tháo đường, các thử nghiệm lâm sàng lớn đã chứng minh SGLT2i mang lại lợi ích giảm 25% đến 39% tỷ lệ tử vong tim mạch và nhập viện vì suy tim ở mọi phân suất tống máu (HFrEF, HFmrEF, HFpEF).
Bốn trụ cột điều trị chuẩn mực trong suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF)
| Trụ cột điều trị | Thuốc đại diện | Cơ chế tác dụng sinh học | Mục tiêu giảm tử vong / biến cố |
|---|---|---|---|
| Trụ cột 1: ARNI / ACEi | Sacubitril / Valsartan | Tăng peptid lợi niệu nội sinh + chẹn trục AT1 | Giảm 20% tử vong tim mạch và nhập viện so với Enalapril đơn thuần |
| Trụ cột 2: Beta-blocker | Bisoprolol, Carvedilol | Ức chế hệ thần kinh giao cảm quá mức, bảo vệ tế bào cơ tim | Giảm 34% nguy cơ tử vong toàn bộ |
| Trụ cột 3: MRA | Spironolactone, Eplerenone | Kháng aldosterone, chống xơ hóa cơ tim và mô kẽ | Giảm 30% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân |
| Trụ cột 4: SGLT2i | Dapagliflozin, Empagliflozin | Lợi niệu thẩm thấu, tối ưu chuyển hóa năng lượng tim | Giảm 25% biến cố gộp tử vong tim mạch hoặc suy tim nhập viện |
Các nhóm thuốc tim mạch thiết yếu khác
- Thuốc hạ lipid máu (Statin, Ezetimibe, ức chế PCSK9): Statin (Atorvastatin, Rosuvastatin) ức chế HMG-CoA reductase, hạ LDL-cholesterol mục tiêu dưới () ở bệnh nhân nguy cơ tim mạch rất cao, ổn định lớp vỏ xơ mảng vữa.
- Thuốc chống huyết khối (Kháng tiểu cầu và Kháng đông): Aspirin và Clopidogrel/Ticagrelor ức chế kết tập tiểu cầu; thuốc chống đông đường uống thế hệ mới (DOACs - Apixaban, Rivaroxaban, Dabigatran) ức chế chọn lọc yếu tố Xa hoặc thrombin trong rung nhĩ không do bệnh van tim để phòng ngừa đột quỵ tắc mạch não.