Phong cách đối phó là tập hợp các phản ứng nhận thức và hành vi mang tính đặc trưng, tương đối ổn định của một cá nhân nhằm xử lý, dung thứ hoặc giảm thiểu những căng thẳng nội tại hoặc ngoại cảnh phát sinh khi hoàn cảnh được đánh giá là vượt quá nguồn lực của bản thân. Thuật ngữ này giữ vị trí trọng tâm trong tâm lý học sức khỏe, tâm lý học lâm sàng và nghiên cứu về stress, phản ánh cách thức con người chủ động tương tác với nghịch cảnh thay vì chỉ chịu tác động thụ động từ môi trường.
Khái niệm và bản chất của phong cách đối phó
Trong tâm lý học, đối phó được hiểu là một chuỗi nỗ lực có ý thức nhằm giải quyết các tình huống đe dọa, thách thức hoặc gây tổn thương. Khái niệm phong cách đối phó phản ánh xu hướng hành vi lặp đi lặp lại có tính quy luật của một người qua nhiều tình huống căng thẳng khác nhau, tạo nên dấu ấn nhân cách riêng biệt trong quản lý áp lực.
Phân biệt chiến lược đối phó và phong cách đối phó
Việc phân biệt giữa chiến lược đối phó và phong cách đối phó là yêu cầu then chốt trong nghiên cứu tâm lý học:
- Chiến lược đối phó: Đề cập đến những hành động, suy nghĩ cụ thể được cá nhân triển khai trong một biến cố nhất thời, mang tính tình huống và có thể biến đổi nhanh chóng tùy theo diễn biến của hoàn cảnh cụ thể.
- Phong cách đối phó: Đề cập đến khuynh hướng tổng quát, thói quen tâm lý định hình cách một cá nhân tiếp cận và phản ứng với stress một cách nhất quán qua thời gian và không gian.
Phân biệt với cơ chế phòng vệ vô thức
Khác với các cơ chế phòng vệ tâm lý theo quan điểm phân tâm học vốn vận hành ở tầng vô thức nhằm bóp méo hiện thực để bảo vệ cái tôi, phong cách đối phó nhấn mạnh các nỗ lực có ý thức, có chủ đích và hướng đến việc nhận diện thực tại khách quan để tìm kiếm giải pháp thích ứng.
Các mô hình lý thuyết nền tảng
Mô hình nhận thức và giao dịch của Lazarus và Folkman
Năm 1984, trong công trình chuyên khảo kinh điển mang tên Stress, Appraisal, and Coping, hai nhà tâm lý học Richard Lazarus và Susan Folkman đã định nghĩa đối phó là nỗ lực nhận thức và hành vi liên tục biến đổi nhằm quản lý các đòi hỏi cụ thể bên ngoài hoặc bên trong vượt quá nguồn lực của cá nhân. Mô hình giao dịch nhận định stress không thuần túy nằm ở tác nhân môi trường hay phẩm chất cá nhân, mà nảy sinh từ mối quan hệ tương tác giữa hai yếu tố thông qua hai giai đoạn thẩm định nhận thức:
- Đánh giá sơ cấp: Cá nhân lượng giá mức độ ý nghĩa của sự kiện đối với sự an nguy của bản thân, xem sự kiện đó là vô hại, cơ hội thách thức, mối đe dọa hay tổn thất đã xảy ra.
- Đánh giá thứ cấp: Cá nhân rà soát và đánh giá các nguồn lực sẵn có, bao gồm kỹ năng cá nhân, tài chính, thời gian và mạng lưới hỗ trợ xã hội để xác định khả năng can thiệp vào hoàn cảnh.
Trước đó, trong nghiên cứu thực nghiệm năm 1980 khảo sát 100 người trưởng thành từ 45 đến 64 tuổi qua 1.332 tình huống căng thẳng đời thường, Folkman và Lazarus đã ghi nhận 98% các tình huống căng thẳng có sự kết hợp đồng thời của cả nỗ lực tập trung vào vấn đề và nỗ lực tập trung vào cảm xúc, chứng minh tính chất đa chiều phức hợp của hành vi ứng phó.
Tiếp tục kiểm chứng bản chất động này, nghiên cứu của Folkman và Lazarus năm 1985 theo dõi sinh viên qua 3 giai đoạn của một kỳ thi đại học gồm giai đoạn dự đoán, giai đoạn chờ đợi và giai đoạn nhận kết quả. Kết quả phân tích cho thấy các biến số nhận thức và đối phó giải thích xấp xỉ 48% phương sai cảm xúc đe dọa và thử thách ở giai đoạn dự đoán. Khi bước sang giai đoạn kết quả, các biến số này giải thích 28% phương sai cảm xúc tích cực và tiêu cực, và tỷ lệ giải thích tăng vọt lên 57% cho cảm xúc tích cực cùng 61% cho cảm xúc tiêu cực khi mô hình kết hợp thêm điểm số thực tế mà sinh viên đạt được.
Mô hình tự điều chỉnh hành vi của Carver và Scheier
Dựa trên lý thuyết điều khiển học và các vòng phản hồi tự điều chỉnh hành vi, Charles Carver và Michael Scheier đề xuất rằng phong cách đối phó phản ánh cách con người quản lý các mục tiêu cá nhân khi gặp trở ngại. Năm 1989, Carver, Scheier và Weintraub đã xây dựng bảng kiểm COPE gồm 60 mục đo lường 15 thang đo con với 4 mục cho mỗi thang đo. Công cụ này phân chia các phản ứng đối phó thành 5 thang đo tập trung vào vấn đề, 5 thang đo tập trung vào cảm xúc và 3 thang đo phản ánh các phản ứng ít hữu ích như buông xuôi hành vi hay từ bỏ tâm lý.
Nhằm khắc phục tình trạng quá tải thời gian cho người tham gia khảo sát trong các nghiên cứu thực địa, Carver năm 1997 đã tinh gọn công cụ này thành thang đo Brief COPE gồm 28 mục đánh giá 14 thang đo con với 2 mục cho mỗi thang, trở thành một trong những thang đo được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới trong nghiên cứu tâm lý học y tế.
Phân loại các phong cách đối phó
Các nhà nghiên cứu tâm lý học đã đề xuất nhiều khung phân loại khác nhau, trong đó phân loại dựa trên chức năng hành vi được chấp nhận rộng rãi nhất trong tài liệu học thuật quốc tế.
Đối phó tập trung vào vấn đề
Phong cách đối phó tập trung vào vấn đề hướng trực tiếp đến nguồn cơn gây ra căng thẳng nhằm thay đổi hoặc loại bỏ hoàn cảnh bất lợi. Các hành vi điển hình bao gồm thu thập thông tin, lập kế hoạch hành động từng bước, đàm phán giải quyết xung đột, phân bổ lại thời gian và tìm kiếm sự hỗ trợ mang tính công cụ như lời khuyên chuyên môn hay trợ giúp vật chất. Phong cách này đem lại hiệu quả thích ứng cao nhất khi tác nhân gây stress có bản chất biến đổi được và cá nhân nắm quyền kiểm soát thực tế.
Đối phó tập trung vào cảm xúc
Khi hoàn cảnh khách quan nằm ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của cá nhân, đối phó tập trung vào cảm xúc trở thành cơ chế thích nghi chủ đạo. Mục tiêu của phong cách này là điều hòa và xoa dịu những phản ứng cảm xúc tiêu cực như lo âu, sợ hãi, giận dữ hoặc trầm nhược. Các chiến lược phổ biến bao gồm tái định hình nhận thức theo hướng tích cực, chấp nhận thực tế, giải tỏa cảm xúc qua chia sẻ tâm sự, thực hành tâm linh hoặc tìm kiếm sự an ủi từ cộng đồng. Đây là phương thức bảo vệ sức khỏe tâm thần tối ưu trong những nghịch cảnh bất khả kháng như mất mát người thân hoặc đối diện với bệnh lý mãn tính.
Đối phó né tránh và thoái thác
Đối phó né tránh bao gồm các nỗ lực nhận thức và hành vi nhằm trốn tránh việc đối diện với tác nhân gây stress hoặc cảm xúc đi kèm. Các biểu hiện cụ thể gồm có phủ nhận thực tế, chối bỏ trách nhiệm, xao nhãng bản thân qua hành vi giải trí quá độ, cô lập xã hội, buông xuôi mục tiêu hoặc lạm dụng rượu bia và chất kích thích. Dù có thể mang lại cảm giác giải tỏa căng thẳng tạm thời trong ngắn hạn, việc lạm dụng phong cách né tránh trong dài hạn thường dẫn đến sự tích tụ áp lực, làm suy giảm chức năng xã hội và gia tăng nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần.
So sánh các phong cách đối phó
Bảng dưới đây tổng hợp các đặc trưng cơ bản giữa ba phong cách đối phó chính trong tâm lý học:
| Tiêu chí so sánh | Đối phó tập trung vào vấn đề | Đối phó tập trung vào cảm xúc | Đối phó né tránh |
|---|---|---|---|
| Trọng tâm tác động | Tác nhân gây stress bên ngoài | Trạng thái cảm xúc bên trong | Rút lui khỏi tác nhân và cảm xúc |
| Mục tiêu cốt lõi | Thay đổi hoặc giải quyết thực tại | Xoa dịu phản ứng khó chịu | Giảm nhẹ căng thẳng tức thì |
| Hành vi tiêu biểu | Lập kế hoạch, hành động trực tiếp | Tái thẩm định tích cực, chia sẻ | Phủ nhận, xao nhãng, buông xuôi |
| Điều kiện tối ưu | Tình huống có thể kiểm soát | Tình huống không thể kiểm soát | Khủng hoảng quá tải trong thời gian ngắn |
| Hệ quả dài hạn | Nâng cao năng lực tự chủ | Bảo toàn cân bằng nội tâm | Gia tăng nguy cơ rối loạn cảm xúc |
Các công cụ và thang đo đánh giá
Việc lượng hóa phong cách đối phó đã dẫn đến sự ra đời của nhiều công cụ trắc nghiệm chuẩn hóa có độ giá trị cao trong tâm lý học thực nghiệm:
- Thang đo Ways of Coping Questionnaire: Được phát triển bởi Folkman và Lazarus, công cụ này đánh giá các nỗ lực nhận thức và hành vi cụ thể mà một cá nhân đã sử dụng trong một tình huống căng thẳng cụ thể vừa trải qua.
- Bảng kiểm COPE và Brief COPE: Được xây dựng bởi Carver và cộng sự năm 1989 và năm 1997, bộ công cụ này đánh giá cả khuynh hướng đối phó mang tính nét nhân cách lẫn phản ứng đối phó mang tính tình huống.
- Thang đo Coping Inventory for Stressful Situations: Năm 1990, Norman Endler và James Parker đã công bố thang đo đánh giá đối phó đa chiều nhằm khắc phục các nhược điểm đo lường của những công cụ trước đó. Thang đo CISS phân loại đối phó thành 3 phong cách gồm hướng vào nhiệm vụ, hướng vào cảm xúc và né tránh với 48 mục gồm 16 mục cho mỗi thang chính, trong đó thang né tránh được tách thành hai nhánh phụ là tìm kiếm sự xao nhãng và tìm kiếm tương tác xã hội.
- Thang đo Coping Flexibility Scale: Nhằm đo lường tính linh hoạt trong đối phó thay vì các phong cách cố định, Kato năm 2012 đã phát triển thang đo CFS qua 5 nghiên cứu thực nghiệm trên 4.400 sinh viên và nhân viên tại Nhật Bản. Thang đo đánh giá 2 quá trình nhận thức cốt lõi là khả năng đánh giá dừng chiến lược không hiệu quả và khả năng kiến tạo chiến lược thích ứng thay thế.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc định hình phong cách đối phó
Phong cách đối phó không hình thành một cách biệt lập mà chịu sự chi phối chặt chẽ của các yếu tố nhân cách, văn hóa và cấu trúc xã hội.
Đặc điểm nhân cách
Các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra mối tương quan bền vững giữa năm yếu tố nhân cách lớn và phong cách đối phó. Tính tận tâm và tính hướng ngoại có mối liên hệ thuận với việc sử dụng đối phó tập trung vào vấn đề và tái thẩm định tích cực. Ngược lại, tính nhạy cảm phân liệt và tính bất ổn cảm xúc có xu hướng dự báo mạnh mẽ việc sử dụng đối phó tập trung vào cảm xúc tiêu cực và các hành vi né tránh thụ động.
Yếu tố văn hóa và bối cảnh xã hội
Giá trị văn hóa định hình sâu sắc chuẩn mực và kỳ vọng xã hội đối với hành vi ứng phó. Nghiên cứu của Tweed, White và Lehman năm 2004 so sánh giữa người gốc Âu và người Đông Á tại Canada cùng người Nhật Bản đã chỉ ra rằng các nền văn hóa Đông Á coi trọng sự hòa hợp tập thể thường ưu tiên các chiến lược kiểm soát nhận thức hướng nội nhằm điều hòa bản thân để thích nghi với hoàn cảnh hơn người phương Tây. Trong khi đó, văn hóa phương Tây tôn trọng chủ nghĩa cá nhân có xu hướng khuyến khích kiểm soát hướng ngoại và giải thích thực tại theo hướng tự nâng cao bản thân.
Ứng dụng trong tâm lý học lâm sàng và sức khỏe
Mối liên hệ giữa đối phó và kết quả sức khỏe
Hiệu quả của phong cách đối phó đối với sức khỏe thể chất và tâm thần đã được chứng minh qua nhiều công trình tổng quan quy mô lớn. Phân tích gộp năm 2002 của Penley, Tomaka và Wiebe tổng hợp các nghiên cứu trên người trưởng thành không lâm sàng chỉ ra rằng đối phó tập trung vào vấn đề tương quan thuận với sức khỏe tổng thể, trong khi các phản ứng như đối phó đối đầu, tạo khoảng cách, né tránh và suy nghĩ viển vông tương quan nghịch với kết quả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.
Can thiệp tâm lý và rèn luyện tính linh hoạt đối phó
Trong thực hành tâm lý học lâm sàng, các nhà trị liệu theo trường phái nhận thức hành vi thường hỗ trợ thân chủ nhận diện các phong cách đối phó kém thích nghi và tái cấu trúc nhận thức để phát triển các kỹ năng giải quyết vấn đề linh hoạt. Khảo sát thực nghiệm của Kato năm 2012 trên 4.400 cá nhân đã chứng minh tính linh hoạt đối phó gồm 2 quá trình đánh giá và thích ứng có khả năng dự báo sự suy giảm đáng kể các triệu chứng trầm cảm và âu lo trong tương lai.
Nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nghiên cứu về phong cách đối phó ngày càng nhận được sự quan tâm sâu rộng trong bối cảnh chăm sóc sức khỏe cộng đồng và các biến cố y tế công cộng:
Năm 2020, nhóm nghiên cứu của Matsumoto và cộng sự đã tiến hành chuẩn hóa thang đo Brief COPE trên 1.164 người nhiễm HIV đang điều trị tại Hà Nội. Phân tích nhân tố đã xác lập cấu trúc thang đo tiếng Việt gồm 26 mục thuộc 6 nhân tố gồm giải quyết vấn đề, né tránh, khiếu hài hước, hỗ trợ xã hội, tôn giáo và sử dụng chất, thể hiện độ tin cậy nội tại cao và tương quan chặt chẽ với tình trạng trầm cảm và hỗ trợ xã hội.
Năm 2021, nghiên cứu của Thai và cộng sự khảo sát 563 sinh viên y tế công cộng và y học dự phòng tại Việt Nam trong đợt dịch, với 71,4% nữ giới, độ tuổi trung bình 21,6 cùng độ lệch chuẩn 2,1. Kết quả ghi nhận trên 80% sinh viên có biểu hiện stress ở các mức độ khác nhau. Điểm trung bình của chiến lược đối phó tiếp cận đạt 2,74, cao hơn rõ rệt so với chiến lược đối phó né tránh là 1,84; đồng thời sinh viên trải qua mức độ căng thẳng cao có xu hướng sử dụng đối phó né tránh nhiều hơn.
Một nghiên cứu khác thực hiện năm 2022 và công bố năm 2023 của tác giả Nguyen và các cộng sự trên 191 sinh viên điều dưỡng tham gia tuyến đầu chống dịch tại các tâm dịch ở Việt Nam cho thấy 21,5% có triệu chứng trầm cảm. Đáng chú ý, có tới 49,2% sinh viên điều dưỡng chưa có chiến lược ứng phó chủ động đối với các vấn đề tâm lý, trong khi 25,7% sinh viên lựa chọn hình thức tư vấn sức khỏe tâm thần từ xa qua video, nhấn mạnh sự cấp thiết của việc đưa kỹ năng đối phó với stress vào chương trình đào tạo y khoa.
Hạn chế và các vấn đề còn tranh luận trong nghiên cứu đối phó
Mặc dù đạt được nhiều bước tiến lý thuyết, lĩnh vực nghiên cứu về phong cách đối phó vẫn đối mặt với một số tranh luận chưa ngã ngũ:
- Tranh luận giữa nét ổn định và tiến trình biến đổi: Các nhà lý thuyết theo quan điểm tiến trình nhấn mạnh đối phó luôn thay đổi theo ngữ cảnh, trong khi các nhà nghiên cứu nhân cách khẳng định sự tồn tại của phong cách cá nhân ổn định qua thời gian.
- Giới hạn của phương pháp tự báo cáo: Phần lớn các thang đo đối phó dựa trên bảng hỏi tự điền hồi cố, dễ bị sai lệch do trí nhớ không hoàn hảo và xu hướng trả lời theo mong muốn xã hội của người tham gia.
- Ranh giới thích ứng tương đối: Không có phong cách đối phó nào mang tính thích ứng tuyệt đối trong mọi hoàn cảnh. Hiệu quả của một phản ứng luôn phụ thuộc vào giả thuyết tương thích giữa mức độ kiểm soát thực tế của tình huống và bản chất của chiến lược được lựa chọn.