giảm tiểu cầu (Thrombocytopenia) là (thrombocytopenia) là tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi số lượng tiểu cầu trong máu ngoại vi sụt giảm dưới ngưỡng bình thường (dưới 150.000/μL), làm gia tăng nguy cơ xuất huyết niêm mạc và nội tạng.
{"ops":[{"insert":"Giảm tiểu cầu là một trạng thái y tế mà người bệnh có một số lượng tiểu cầu dưới mức bình thường trong máu. Tiểu cầu là những tế bào cơ bản của hệ thống miễn dịch và có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và chống lại các bệnh tật. Khi tiểu cầu bị giảm, hệ thống miễn dịch trở nên suy yếu và người bệnh dễ mắc phải các nhiễm trùng và bệnh tật khác. Giảm tiểu cầu có thể là do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm bệnh lý đa chủng, hóa trị liệu, bệnh tự miễn dịch và các bệnh di truyền. Điều trị của giảm tiểu cầu tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra nó và có thể bao gồm việc sử dụng thuốc, liệu pháp tăng tiểu cầu hoặc truyền máu.\nKhông có giảm tiểu cầu đơn giản, mà nó là một triệu chứng của nhiều bệnh và tình trạng khác nhau. Dưới đây là một số ví dụ về nguyên nhân và bệnh lý có thể gây ra giảm tiểu cầu:\n\n1. Bệnh thiếu máu: Một số loại thiếu máu, như thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu bạch cầu và thiếu máu bầm tím có thể gây ra giảm tiểu cầu.\n\n2. Bệnh xương: Bệnh ung thư xương, bệnh lý bạch cầu và các bệnh lý khác liên quan đến xương có thể gây giảm tiểu cầu.\n\n3. Bệnh hệ thống tự miễn dịch: Một số bệnh tự miễn dịch như thấp kháng globulin, bệnh lupus ban đỏ, bệnh granulomatosis bạch cầu và bệnh Henoch-Schönlein có thể gây giảm tiểu cầu.\n\n4. Bệnh lý mô liên kết: Một số bệnh lý mô liên kết như bệnh lupus ban đỏ, bệnh scleroderma và bệnh thấp kháng C3 có thể gây ra giảm tiểu cầu.\n\n5. Hóa trị liệu: Một số loại hóa trị liệu, như hóa trị liệu hủy diệt tủy xương, có thể gây giảm tiểu cầu do ức chế sự tạo ra tiểu cầu.\n\n6. Các bệnh lý khác: Các bệnh lý khác như viêm gan, bệnh viêm nhiễm và bệnh nhiễm trùng cũng có thể gây giảm tiểu cầu.\n\nViệc điều trị giảm tiểu cầu phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra nó. Điều trị có thể bao gồm sử dụng thuốc để kích thích tạo tiểu cầu, xử lý nguyên nhân gây ra giảm tiểu cầu hoặc thực hiện truyền máu tiểu cầu từ nguồn máu khác.\nCụ thể hơn, dưới đây là một số nguyên nhân và bệnh lý có thể gây ra giảm tiểu cầu:\n\n1. Hạn chế sản xuất tiểu cầu: Trong một số trường hợp, sản xuất tiểu cầu bị giảm do các nguyên nhân sau đây:\n - Bệnh bạch cầu: Những bệnh như bệnh bạch cầu cấp tính và mãn tính, bệnh bạch cầu bẩm sinh, hay bệnh bạch cầu do tác động từ chất độc có thể gây ra giảm tiểu cầu.\n - Bệnh thiếu máu thiếu sắt: Thiếu sắt là yếu tố quan trọng trong quá trình tạo cầu máu và một sự thiếu hụt có thể dẫn đến giảm tiểu cầu.\n - Hóa trị liệu: Một số loại hóa trị liệu, như hóa trị liệu chống ung thư, có thể tác động đến tủy xương và giảm khả năng sản xuất tiểu cầu.\n\n2. Phá hủy tiểu cầu: Giảm tiểu cầu cũng có thể do quá trình phá hủy tiểu cầu tăng lên hoặc vượt quá tốc độ sản xuất. Các nguyên nhân có thể gồm:\n - Bệnh lý miễn dịch: Một số bệnh lý miễn dịch như viêm khớp, lupus ban đỏ và bệnh màng đỏ có thể tác động đến hệ thống miễn dịch và dẫn đến phá hủy tiểu cầu.\n - Bệnh lý gan: Bệnh gan như viêm gan, xơ gan và viêm gan siêu vi B hoặc siêu vi C có thể gây ra giảm tiểu cầu do phá hủy được tăng lên.\n - Một số loại thuốc: Một số loại thuốc như thuốc chống kháng, penicilin và sulfonamid cũng có thể gây phá hủy tiểu cầu và dẫn đến giảm tiểu cầu.\n\n3. Sự đàn áp tiểu cầu: Trong một số trường hợp, giảm tiểu cầu có thể do các yếu tố đàn áp tiểu cầu gây ra. Các nguyên nhân bao gồm:\n - Bệnh miễn dịch tự miễn dịch: Một số bệnh như bệnh lupus ban đỏ và bệnh thấp kháng globulin có thể gây sự đàn áp tiểu cầu.\n - Bệnh lý mô liên kết: Các bệnh lý mô liên kết như bệnh lupus ban đỏ, bệnh scleroderma và bệnh thấp kháng C3 có thể tác động đến tiểu cầu và gây ra giảm tiểu cầu.\n\nViệc điều trị giảm tiểu cầu tùy thuộc vào nguyên nhân cụ thể. Một số phương pháp điều trị có thể bao gồm sử dụng thuốc kích thích tạo tiểu cầu, điều trị nguyên nhân bệnh lý gây ra giảm tiểu cầu, truyền máu tiểu cầu hoặc xử lý các yếu tố đàn áp tiểu cầu. Tuyệt đối cần tham khảo ý kiến của bác sĩ để đánh giá và xác định nguyên nhân cụ thể và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.\n"}]}Giảm tiểu cầu là gì? Các công bố khoa học về Giảm tiểu cầu
Thrombocytopenia
Giảm tiểu cầu (thrombocytopenia) là tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi số lượng tiểu cầu trong máu ngoại vi sụt giảm dưới ngưỡng bình thường (dưới 150.000/μL), làm gia tăng nguy cơ xuất huyết niêm mạc và nội tạng.
Các cơ chế bệnh sinh chính dẫn đến giảm tiểu cầu là gì?
Bao gồm 3 nhóm cơ chế: giảm sản xuất tại tủy xương (suy tủy, lơ-xê-mi), tăng phá hủy hoặc tiêu thụ ở ngoại vi (giảm tiểu cầu miễn dịch ITP, đông máu rải rác DIC), và bắt giữ tiểu cầu quá mức tại lách to.
Ngưỡng số lượng tiểu cầu bao nhiêu thì bắt đầu có nguy cơ xuất huyết tự nhiên nguy hiểm?
Khi số lượng tiểu cầu giảm dưới 20.000/μL, nguy cơ xuất huyết niêm mạc tự phát tăng cao; dưới 10.000/μL là tình trạng khẩn cấp có nguy cơ xuất huyết não và tiêu hóa đe dọa tính mạng.
Phác đồ điều trị đầu tay cho bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch (ITP) là gì?
Sử dụng corticosteroid liều cao (prednisone hoặc dexamethasone) hoặc truyền globulin miễn dịch tĩnh mạch (IVIG) nhằm ức chế sự phá hủy tiểu cầu qua trung gian tự kháng thể tại hệ liên võng nội mô.
- Pou, Trivedi, Milrod, Raker et al. (2024). Association of Platelet Count and Mean Platelet Volume with Severity of Bleeding Events in Patients with Immune Thrombocytopenia. Blood. doi:10.1182/blood-2024-204425 DOI: 10.1182/blood-2024-204425
- Alalagy, Altaeb (2026). Association Between Platelet Indices and Platelet Count in Patients with Immune Thrombocytopenia During Routine Follow-up. openRxiv. doi:10.64898/2026.02.04.26345597 DOI: 10.64898/2026.02.04.26345597
- Ersan, Alpay, Boza, Erenel (2025). Severe Thrombocytopenia in Pregnancy: Etiology, Management, and Outcomes Across Platelet Count Categories. Journal of Clinical Medicine. doi:10.3390/jcm14228162 DOI: 10.3390/jcm14228162