Ghép tế bào gốc (stem cell transplantation) là quy trình điều trị y khoa chuyên sâu trong đó các tế bào gốc tạo máu hoặc tế bào gốc trung mô được truyền vào cơ thể người bệnh nhằm tái lập hệ thống tạo máu và miễn dịch khỏe mạnh sau các phác đồ điều trị ức chế tủy hoặc bệnh lý ác tính.
Phân loại ghép tế bào gốc tạo máu (HSCT)
Trong thực hành huyết học - ung thư học, ghép tế bào gốc tạo máu (Hematopoietic Stem Cell Transplantation - HSCT) được phân loại thành hai hình thức căn bản dựa trên nguồn gốc của người hiến tặng:
1. Ghép tế bào gốc tự thân (Autologous HSCT): Tế bào gốc tạo máu được thu thập từ chính cơ thể người bệnh trong giai đoạn bệnh thoái lui hoàn toàn, được bảo quản đông lạnh ở nhiệt độ cực thấp (-196 độ C trong nitơ lỏng có chất bảo vệ DMSO). Sau đó, bệnh nhân trải qua hóa trị liệu liều cao tiêu diệt tủy nhằm quét sạch tế bào ác tính còn sót lại, rồi truyền lại tế bào gốc đã rã đông để phục hồi tủy xương. Hình thức này được chỉ định chủ yếu trong bệnh đa u tủy xương (multiple myeloma) và u lympho tái phát, ưu điểm là không có nguy cơ đào thải và không có bệnh ghép chống chủ.
2. Ghép tế bào gốc đồng loại (Allogeneic HSCT): Tế bào gốc được lấy từ người hiến tặng khỏe mạnh phù hợp hệ kháng nguyên bạch cầu người (HLA). Nguồn hiến có thể là anh chị em ruột phù hợp HLA hoàn toàn (matched sibling donor - MSD), người hiến không cùng huyết thống phù hợp HLA (MUD), ghép nửa hòa hợp haploidentical (từ cha mẹ hoặc con cái hòa hợp 50% HLA) hoặc máu cuống rốn. Ghép đồng loại đem lại lợi ích kép: thay thế hệ tạo máu bệnh lý bằng hệ tạo máu lành mạnh, và tạo ra hiệu ứng miễn dịch mảnh ghép chống khối u (Graft-versus-Tumor / GvL effect) trong đó tế bào T của người hiến nhận diện và tiêu diệt các tế bào ung thư bạch cầu còn sót lại.
Các nguồn thu thập tế bào gốc tạo máu
Hiện nay có ba nguồn thu thập tế bào gốc tạo máu chính:
- Tế bào gốc máu ngoại vi huy động (PBSC): Nguồn phổ biến nhất hiện nay (chiếm trên 80% các ca ghép). Người hiến được tiêm dưới da yếu tố kích thích dòng bạch cầu hạt (G-CSF) trong 4-5 ngày để huy động tế bào CD34+ từ tủy xương phóng thích ra máu ngoại vi, sau đó gạn tách qua máy phân tách tế bào liên tục (apheresis). Ưu điểm là thời gian mọc tủy nhanh hơn và không cần gây mê phòng mổ.
- Tủy xương hút trực tiếp (Bone marrow): Chọc hút trực tiếp từ gai chậu sau trên dưới gây mê toàn thân. Chứa ít tế bào T hơn máu ngoại vi, giúp giảm nguy cơ bệnh ghép chống chủ mạn tính.
- Máu cuống rốn (Umbilical cord blood): Tế bào gốc non nớt về mặt miễn dịch, cho phép ghép thành công ngay cả khi có bất đồng 1-2 alen HLA, thích hợp cho bệnh nhân nhi không tìm được người hiến hòa hợp.
Các biến chứng then chốt và thách thức sau ghép
Ghép tế bào gốc là một trong những can thiệp y khoa phức tạp nhất với nguy cơ tử vong liên quan đến ghép (TRM) đáng kể do các biến chứng sau:
Bệnh ghép chống chủ (Graft-versus-Host Disease - GvHD): Biến chứng miễn dịch đặc thù của ghép đồng loại khi lympho T của người hiến tấn công các mô lành của người nhận. GvHD cấp tính xuất hiện trong vòng 100 ngày đầu sau ghép, tổn thương chủ yếu ở da (ban đỏ tróc vảy), gan (tăng bilirubin vàng da) và đường tiêu hóa (tiêu chảy nước ồ ạt, đau bụng). GvHD mạn tính xuất hiện muộn hơn, biểu hiện xơ hóa tương tự các bệnh tự miễn hệ thống.
Nhiễm trùng cơ hội trong giai đoạn suy tủy và ức chế miễn dịch: Bệnh nhân mất hoàn toàn bạch cầu hạt trong 2-3 tuần đầu, đối mặt với nguy cơ sốc nhiễm khuẩn vi khuẩn Gram âm, nhiễm nấm xâm lấn (Aspergillus, Candida) và tái hoạt virus cơ hội (Cytomegalovirus - CMV, EBV, BK virus).
Hội chứng tắc xoang gan (SOS / VOD - Sinusoidal Obstruction Syndrome): Tổn thương nội mạc xoang gan do độc tính của phác đồ điều hòa tiền ghép, gây đau hạ sườn phải, gan to ứ máu, vàng da và tăng cân do ứ dịch báng bụng.