Siêu không gian là gì? Các công bố khoa học về Siêu không gian

Siêu không gian là một khái niệm trong vật lý và toán học để mô tả không gian hơn ba chiều mà chúng ta sống. Nó là một không gian có số chiều lớn hơn 3, có thể là 4, 5, 6, hay nhiều hơn nữa. Trong siêu không gian, các đối tượng không chỉ có thể di chuyển trong ba chiều không gian x, y và z, mà còn có thể di chuyển theo các chiều khác nữa.

Siêu không gian là một khái niệm trừu tượng và không được trực tiếp quan sát. Tuy nhiên, nó được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như vật lý lý thuyết, lý thuyết đồ họa, và khoa học máy tính để mô phỏng các không gian tương đối phức tạp, nơi mà các chiều bổ sung cần được xem xét. Một số ví dụ của siêu không gian bao gồm không gian minkowski trong lý thuyết tương đối hẹp của Einstein và không gian nhiều chiều trong lý thuyết chuỗi trong vật lý hạt nhân.
Siêu không gian có thể được hiểu là một không gian có số chiều lớn hơn ba chiều không gian mà chúng ta trực tiếp quan sát. Trong không gian ba chiều, chúng ta có thể di chuyển theo ba hướng: trên, dưới, trái, phải, trước và sau. Nhưng trong siêu không gian, chúng ta có thể di chuyển không chỉ theo các hướng này mà còn có thể di chuyển theo các hướng bổ sung.

Trong toán học, siêu không gian được mô tả và nghiên cứu thông qua các đại số đa biến. Mỗi biến được xem như một chiều trong không gian và các biến này có thể có nhiều hơn ba. Chẳng hạn, không gian bốn chiều có thể được biểu diễn bằng cách sử dụng bốn biến x, y, z và w. Các điểm trong không gian này được biểu diễn bằng các bộ số (x, y, z, w).

Siêu không gian cũng được sử dụng trong lĩnh vực vật lý. Ví dụ, trong lý thuyết tương đối của Einstein, không gian minkowski là một siêu không gian bốn chiều được sử dụng để mô tả không gian và thời gian. Nó được sử dụng để mô tả sự chúng tụ của không gian và thời gian trong hệ thống tọa độ không gian- thời gian bốn chiều (x, y, z, t), trong đó t là thời gian.

Trong lý thuyết chuỗi của vật lý hạt nhân, có các mô hình với siêu không gian có nhiều chiều hơn. Theo lý thuyết này, không gian có thể có tới 10 hoặc 11 chiều. Tuy vậy, các chiều này vượt quá khái niệm không gian ba chiều mà chúng ta quen thuộc và không thể được quan sát trực tiếp. Chúng được sử dụng để mô phỏng những hiện tượng vật lý mà không gian ba chiều không thể giải thích hoặc mô tả.

Nhờ vào khái niệm siêu không gian, các nhà khoa học và toán học có thể nghiên cứu và mô phỏng các không gian phức tạp hơn, mang lại những hiểu biết sâu hơn về cấu trúc và tính chất của không gian và các hiện tượng xảy ra trong đó.

Danh sách công bố khoa học về chủ đề "siêu không gian":

Competitive and cooperative strategies in engineering services
Long Range Planning - Tập 25 - Trang 43-49 - 1992
Francis Bidault, Paul Laurent, Cyrille Segla
Heart rate and autonomic biomarkers distinguish convulsive epileptic vs. functional or dissociative seizures
Seizure : the journal of the British Epilepsy Association - Tập 111 - Trang 178-186 - 2023
Justin M. Ryan, Kyle T. Wagner, Sushma Yerram, Cathleen Concannon, Jennifer X. Lin, Patrick Rooney, Brian Hanrahan, Victoria Titoff, Noreen L. Connolly, Ramona Cranmer, Natalia DeMaria, Xiaojuan Xia, Betty Mykins, Steven Erickson, Jean-Philippe Couderc, Giovanni Schifitto, Inna Hughes, Dongliang Wang, Giuseppe Erba, David S. Auerbach
Direct numerical reconstruction of inelastic cross sections from REELS and ISS spectra
Journal of Surface Investigation - Tập 5 Số 2 - Trang 375-382 - 2011
Afanas’ev, V. P., Efremenko, D. S., Lubenchenko, A. V.
The reconstruction of inelastic scattering cross sections faces two problems: the measured signal (energy spectrum) is a multiple scattering signal; the inelastic energy loss is nonuniform over the target depth. In this paper, we present a method for numerical reconstruction of cross sections from characteristic energy loss spectra, which efficiently solves both problems within a multilayer model. It is shown that the inverse problem of cross section extraction in the three-layer model is ill-conditioned, and the method is practically inapplicable to the three-layer model. The direct numerical reconstruction method yields a strongly “noised” result and can be applied only to obtain a priori information on the inelastic cross section form for further fitting. Using a combination of two methods, inelastic scattering cross sections were reconstructed for aluminum from characteristic energy loss spectra at probe beam energies of 5 and 40 keV. It is shown that ionization in solids should be described as a local process and as a collective one using the dispersion formula similarly to the case of excitation plasmons.
Serosurvey on theileriosis in Awassi sheep in Syria
Elsevier BV - Tập 81 Số 4 - Trang 275-280 - 1999
Y Y, M M
Identification and referral of patients with refractory epilepsy from the primary to the tertiary care interface in New South Wales, Australia
Epilepsy and Behavior - Tập 111 - Trang 107232 - 2020
Karen Hutchinson, Geoffrey Herkes, Patti Shih, Emilie Francis-Auton, Mia Bierbaum, Tayhla Ryder, Armin Nikpour, Andrew Bleasel, Chong Wong, Sanjyot Vagholkar, Jeffrey Braithwaite, Frances Rapport
Tropospheric ozone behavior observed in Indonesia
Atmospheric Environment - Tập 30 - Trang 1851-1856 - 1996
Ninong Komala, Slamet Saraspriya
Life cycle assessment of biohydrogen and biomethane production and utilisation as a vehicle fuel
Bioresource Technology - Tập 131 - Trang 235-245 - 2013
Tim Patterson, Sandra Esteves, Richard Dinsdale, Alan Guwy, Jon Maddy
Occult Breast Cancer Presented with Axillary Lymph Node Metastases: A Small Case Series to a Frustrating Medical Issue
Indian Journal of Surgery - Tập 83 Số 2 - Trang 364-367 - 2021
Mantas, D., Garoufalia, Z., Kontzoglou, C.
Occult breast carcinoma (OBC) presenting with axillary metastases and no identifiable breast tumor is a rare entity that can be a diagnostic and therapeutic challenge. Retrospectively, we gathered data from five female patients who presented to us with enlarged axillary nodes. Data collected included age at diagnosis, presenting complaints, imaging studies, surgical findings, histology, treatment, and progress. All patients underwent mammographic examination as well as breast ultrasound with no evidence of disease. In all five cases, there was a positive preoperative biopsy of the affected lymph node for breast adenocarcinoma. All patients were treated with modified radical mastectomy (MRM) except for one case, in which ALND was performed. The histology reports of three patients that underwent MRM revealed no sign of intramammary adenocarcinoma. In two cases, there was history of contralateral breast cancer. Only one patient did not receive perioperative chemotherapy. The disease-free survival ranges between 6 months and 2 years. OBC presenting with axillary metastases is an unusual presentation, and there is not enough evidence to support recommendations regarding the management. For patients with no evidence of metastatic disease, the management can be individualized. There is vast heterogeneity in studies concerning the treatment of OBC.
Source area determination of aeolian sediments at Jandia Isthmus (Fuerteventura, Canary Islands)
Journal of Marine Systems - Tập 80 - Trang 219-234 - 2010
J. Alcántara-Carrió, S. Fernández-Bastero, I. Alonso
Information Management Group
Emerald - Tập 29 Số 6 - 2000
Tổng số: 3,959,236   
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 395924