Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Nhóm nhân bụng đồi thị (ventral nuclear group) là gì?

Tiếng Anhventral nuclear group of thalamus

Tên gọi khácnhóm nhân bụng của đồi thịcác nhân bụng đồi thị

Nhóm nhân bụng đồi thị là tập hợp các nhân xám nằm ở tầng bụng của nhóm nhân bên đồi thị, đóng vai trò trạm chuyển tiếp và tích hợp cảm giác thân thể và điều hòa vận động lên vỏ não.

Cập nhật 20/9/2026

Nhóm nhân bụng đồi thị (ventral nuclear group of thalamus hay ventral thalamic nuclei) là tập hợp các cụm nơ-ron chất xám chuyên biệt hóa cao nằm ở tầng bụng của phần bên đồi thị thuộc gian não. Trong hệ thần kinh trung ương, nhóm nhân này đóng vai trò là trạm chuyển tiếp và tích hợp thông tin cảm giác - vận động trọng yếu bậc nhất, tạo thành cầu nối thông tin hai chiều bắt buộc giữa tủy sống, thân não, hạch nền, tiểu não và vỏ não đại não. Nhờ các kết nối định khu hình thái chính xác theo phân bố bản đồ thân thể, nhóm nhân bụng không chỉ cho phép truyền tải các cảm giác xúc giác, bản thể và đau nhiệt mà còn tham gia trực tiếp vào việc lập kế hoạch, khởi phát và tinh chỉnh các chuỗi vận động tự chủ phức tạp.

Phân khu giải phẫu và cấu trúc tế bào học của nhóm nhân bụng

Về mặt hình thái học đại thể, đồi thị mỗi bên được phân chia bởi một dải chất trắng hình chữ Y gọi là lá tủy trong thành ba nhóm nhân chính: nhóm nhân trước, nhóm nhân trong và nhóm nhân bên. Nhóm nhân bên có kích thước lớn nhất và được chia tiếp thành hai tầng: tầng lưng nằm ở phía trên và tầng bụng nằm dọc theo mặt dưới bên của đồi thị. Tầng bụng này chính là nhóm nhân bụng đồi thị, được ngăn cách với bao trong ở phía ngoài bởi lá tủy ngoài cùng nhân lưới đồi thị, và tiếp giáp với vùng dưới đồi (subthalamus) ở phía dưới.

Năm 1997, công trình xây dựng bản đồ lập thể và vi kiến trúc đa phương thức đồi thị người của Anne Morel cùng các cộng sự công bố trên tạp chí The Journal of Comparative Neurology đã xác lập các tiêu chuẩn mô học và hóa mô miễn dịch hiện đại để phân định ranh giới các nhân này. Bằng cách sử dụng nhuộm hóa mô tế bào với parvalbumin và calbindin kết hợp với kỹ thuật dựng hình không gian ba chiều, nghiên cứu của Morel đã chứng minh rằng nhóm nhân bụng không phải là một khối đồng nhất mà bao gồm các tiểu vùng riêng biệt với mật độ tế bào, kích thước thân nơ-ron và mạng lưới thụ thể dẫn truyền thần kinh khác nhau. Các tiểu vùng này được nhóm lại thành ba phức hợp nhân giải phẫu chức năng cơ bản: phức hợp nhân bụng trước, phức hợp nhân bụng bên và phức hợp nhân bụng sau.

Các phân nhóm nhân chính và mạng lưới kết nối thần kinh

Mỗi phân nhóm nhân trong tầng bụng đồi thị đảm trách một kênh truyền dẫn thông tin chuyên biệt, tích hợp vào các mạng lưới chức năng thần kinh khác nhau của não bộ:

  • Nhân bụng trước (Ventral Anterior nucleus - VA): Nằm ở phần trước nhất của nhóm bụng, tiếp giáp với đầu trước đồi thị. Nhân này nhận các sợi hướng tâm chính từ các cấu trúc đầu ra của hạch nền, bao gồm cầu nhạt nội phần và phần lưới của chất đen. Các tế bào thần kinh của nhân bụng trước sau đó phóng chiếu các sợi ly tâm chủ yếu tới vỏ não tiền vận động, vỏ não vận động bổ sung và một phần vỏ não trước trán. Do đó, nhân bụng trước giữ vai trò trung gian trong việc lập trình chiến lược vận động, điều phối hành vi phức tạp và kiểm soát vận động tự ý có mục đích.
  • Nhân bụng bên (Ventral Lateral nucleus - VL): Nằm ngay phía sau nhân bụng trước, thường được phân chia thành các phần phụ như phần trước, phần sau và phân vùng nhân bụng trung gian (Ventral Intermediate - Vim). Nhân bụng bên là trạm chuyển tiếp vận động kinh điển của hệ thống tiểu não - đồi thị - vỏ não. Nguồn sợi hướng tâm chủ đạo đến từ nhân răng của tiểu não đối bên thông qua cuống tiểu não trên và bó răng - đồi thị, cùng với một phần sợi từ cầu nhạt. Nhân bụng bên phóng chiếu các sợi ly tâm thẳng tới vỏ não vận động sơ cấp và vỏ não tiền vận động. Kênh dẫn truyền này đóng vai trò cốt tử trong việc điều chỉnh trương lực cơ, phối hợp thời gian co cơ và hiệu chỉnh sai lệch vận động tức thì.
  • Phức hợp nhân bụng sau (Ventral Posterior complex - VP): Nằm ở phần sau dưới của nhóm bụng, là trung tâm chuyển tiếp cảm giác thân thể lớn nhất của đồi thị. Phức hợp này được chia thành hai phân nhóm chính theo vị trí giải phẫu và bản đồ thụ cảm:
    • Nhân bụng sau - bên (Ventral Posterolateral nucleus - VPL): Tiếp nhận thông tin cảm giác thân thể từ toàn bộ cơ thể từ cổ trở xuống. Các sợi dẫn truyền hướng tâm đi qua dải liềm trong (mang cảm giác xúc giác tinh vi, cảm giác rung âm ba và cảm giác bản thể sâu có ý thức) và dải tủy đồi thị (mang cảm giác đau, nhiệt và xúc giác thô sơ). Các nơ-ron của nhân VPL phóng chiếu qua đùi sau bao trong để tận cùng tại vùng đại diện thân thể ở vỏ não cảm giác thân thể sơ cấp thuộc hồi sau trung tâm.
    • Nhân bụng sau - trong (Ventral Posteromedial nucleus - VPM): Nằm ở phía trong so với nhân VPL, tiếp nhận toàn bộ thông tin cảm giác bản thể, xúc giác, đau nhiệt từ vùng đầu mặt thông qua dải liềm sinh ba (bó sinh ba - đồi thị). Đồng thời, phần nhỏ phía trong của nhân VPM còn tiếp nhận thông tin vị giác từ nhân bó đơn độc của hành não và chuyển tiếp lên vỏ não vị giác ở thùy đảo và nắp đỉnh.

Cơ chế dẫn truyền: Tín hiệu động lực và tín hiệu điều biến theo mô hình Sherman - Guillery

Trong nhiều thập kỷ, đồi thị thường bị hiểu nhầm là một trạm chuyển tiếp thụ động, chỉ đơn thuần lặp lại các xung động thần kinh đi lên vỏ não. Tuy nhiên, nghiên cứu kinh điển của S. Murray Sherman và R. W. Guillery công bố năm 2002 trên tạp chí Philosophical Transactions of the Royal Society of London Series B đã làm thay đổi căn bản nhận thức này thông qua mô hình phân loại tín hiệu động lực (drivers) và tín hiệu điều biến (modulators).

Theo mô hình Sherman - Guillery, nhóm nhân bụng đồi thị đại diện cho các trạm chuyển tiếp bậc một (first-order relays). Đặc điểm của trạm bậc một là các sợi dẫn truyền thông tin chính (driver inputs) bắt nguồn từ các đường dẫn truyền dưới vỏ như dải liềm trong, bó gai thị hoặc nhân răng tiểu não. Các sợi driver này tạo các synap kích thích dạng cúc tận cùng lớn với thụ thể ionotropic glutamate trên thân và đuôi gai gần của nơ-ron đồi thị, đảm bảo truyền đạt thông tin nguyên vẹn và trung thực về tần số và nhịp xung lên vỏ não.

Ngược lại, phần lớn số lượng synap trên nơ-ron nhóm nhân bụng lại thuộc về các sợi điều biến (modulators). Các sợi này xuất phát từ lớp sâu của vỏ não đại não (vòng phản hồi vỏ não - đồi thị), từ nhân lưới đồi thị (các nơ-ron ức chế GABA) và từ các nhân thuộc hệ lưới thân não (tiết acetylcholine, serotonin, noradrenaline). Tín hiệu điều biến tác động thông qua các thụ thể bắt cặp protein G metabotropic, làm thay đổi điện thế màng nơ-ron đồi thị và chuyển đổi trạng thái hoạt động giữa chế độ phát xung bùng nổ (burst firing mode) trong trạng thái ngủ hoặc giảm chú ý sang chế độ phát xung trương lực (tonic firing mode) trong trạng thái tỉnh táo và tập trung xử lý tín hiệu.

Bảng tổng hợp đối chiếu đặc điểm các nhân thuộc nhóm bụng đồi thị

Bảng dưới đây tổng hợp và đối chiếu các đặc điểm giải phẫu, nguồn sợi hướng tâm, đích chiếu ly tâm và vai trò sinh lý của từng nhân thuộc nhóm nhân bụng đồi thị:

Nhân đồi thị Vị trí giải phẫu Nguồn tín hiệu hướng tâm chính Vùng vỏ não đích của sợi ly tâm Chức năng sinh lý học chủ đạo
Nhân bụng trước (VA) Phần trước tầng bụng đồi thị Cầu nhạt nội phần, phần lưới chất đen (hạch nền) Vỏ não tiền vận động, vỏ não vận động bổ sung Lập kế hoạch, chọn lọc hành vi vận động và điều hòa mạch vận động trán - nền
Nhân bụng bên (VL / Vim) Phần giữa tầng bụng đồi thị Nhân răng tiểu não qua cuống tiểu não trên, cầu nhạt Vỏ não vận động sơ cấp, vỏ não tiền vận động Điều phối phối hợp động tác, phản hồi vận động tiểu não, kiểm soát tần số run
Nhân bụng sau - bên (VPL) Phần sau ngoài phức hợp bụng sau Dải liềm trong, dải tủy đồi thị (từ thân và chi) Vỏ não cảm giác thân thể sơ cấp (diện thân và chi) Chuyển tiếp cảm giác xúc giác tinh vi, rung âm ba, vị trí khớp, đau nhiệt thân chi
Nhân bụng sau - trong (VPM) Phần sau trong phức hợp bụng sau Dải liềm sinh ba (mặt), nhân bó đơn độc (vị giác) Vỏ não cảm giác thân thể sơ cấp (diện mặt), vỏ não vị giác Chuyển tiếp cảm giác da đầu mặt, cảm giác niêm mạc khoang miệng và cảm nhận vị giác

Ứng dụng lâm sàng: Hội chứng đột quỵ đồi thị và phẫu thuật thần kinh

Do vị trí chiến lược và sự hội tụ của các đường dẫn truyền thần kinh trọng yếu, các tổn thương thực thể xảy ra tại nhóm nhân bụng đồi thị dẫn đến những bệnh cảnh thần kinh lâm sàng rất đặc trưng và nghiêm trọng.

Về mặt bệnh học mạch máu não, nghiên cứu mang tính bước ngoặt của Julien Bogousslavsky và các cộng sự công bố năm 1988 trên tạp chí Neurology đã phân tích chi tiết hình thái tổn thương và triệu chứng thần kinh ở 40 bệnh nhân bị nhồi máu đồi thị được xác nhận bằng chụp cắt lớp vi tính. Các tác giả đã phân định mạch máu nuôi dưỡng đồi thị thành 4 phân vùng động mạch độc lập: vùng củ đồi thị, vùng cạnh đường giữa, vùng dưới bên và vùng mạch mạc sau. Trong đó, phần sau của nhóm nhân bụng đồi thị (gồm phức hợp nhân bụng sau VPL, VPM và nhân bụng bên sau VLp/Vim) nằm trong vùng dưới bên, được cấp máu bởi các nhánh động mạch đồi thị gối xuất phát từ động mạch não sau. Riêng phần trước của nhóm bụng (nhân bụng trước VA và một phần VL trước) thuộc vùng củ đồi thị, nhận máu từ động mạch củ đồi thị xuất phát từ động mạch thông sau.

Nhồi máu động mạch đồi thị gối làm hoại tử phức hợp nhân bụng sau (VPL và VPM) và nhân bụng bên. Hội chứng lâm sàng kinh điển là đột quỵ cảm giác thuần túy, biểu hiện bằng mất toàn bộ các loại cảm giác ở nửa người đối bên. Đáng kể hơn, tổn thương này có thể diễn tiến thành hội chứng đau trung ương đồi thị (hội chứng Dejerine - Roussy), với các cơn đau rát bỏng dữ dội, loạn cảm đau (allodynia) và tăng cảm giác đau (hyperalgesia) đề kháng với hầu hết các thuốc giảm đau thông thường do mất cơ chế ức chế cảm giác bình thường tại đồi thị.

Ở chiều ngược lại của can thiệp lâm sàng, việc hiểu rõ vai trò điều biến vận động của nhân bụng bên và tiểu phân vùng nhân bụng trung gian (Vim) đã mở ra một hướng tiếp cận quan trọng cho phẫu thuật thần kinh chức năng. Năm 1991, trên tạp chí The Lancet, nhóm nghiên cứu của Giáo sư Alim-Louis Benabid đã công bố kết quả ứng dụng phương pháp kích thích điện mạn tính tần số cao vào nhân bụng trung gian đồi thị bằng kỹ thuật kích thích não sâu ở 32 bệnh nhân, bao gồm 26 ca bệnh Parkinson và 6 ca run vô căn nặng. Kết quả cho thấy phương pháp này đạt tỷ lệ kiểm soát run cao: kiểm soát hoàn toàn triệu chứng run ở 27 trong số 43 đồi thị được kích thích và đem lại sự cải thiện rất lớn ở 11 đồi thị khác, thiết lập tỷ lệ thành công chung đạt tới 88%. Nhờ tính chất khả hồi, có thể tinh chỉnh thông số kích thích mà không gây tổn thương hủy mô vĩnh viễn như kỹ thuật mở nhân đồi thị bằng nhiệt đông truyền thống, kích thích nhân bụng trung gian đã trở thành lựa chọn ngoại khoa hàng đầu trong kiểm soát triệu chứng run kháng thuốc, đặc biệt là run vô căn.

Tại Việt Nam, kỹ thuật kích thích não sâu đã được triển khai thành công tại các trung tâm ngoại thần kinh hàng đầu như Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thực hành lâm sàng, việc lựa chọn cấu trúc đích phụ thuộc chặt chẽ vào thể bệnh: trong khi kích thích nhân bụng trung gian đồi thị (Vim) là can thiệp chuyên biệt cho thể run vô căn hoặc Parkinson ưu thế run, thì đối với bệnh Parkinson thể tiến triển nói chung, cấu trúc đích thường được lựa chọn là nhân dưới đồi (subthalamic nucleus - STN) thuộc vùng dưới đồi nhằm kiểm soát toàn diện cả triệu chứng cứng đơ và chậm vận động. Trong công trình công bố năm 2021 trên Tạp chí Y học Việt Nam, nhóm tác giả Trần Đình Văn, Đồng Văn Hệ và các cộng sự tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã báo cáo kết quả phẫu thuật kích thích não sâu đặt điện cực nhân dưới đồi trên 10 bệnh nhân Parkinson vô căn trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020. Dưới sự trợ giúp của hệ thống định vị không gian lập thể và thăm dò vi điện cực nội sọ, quá trình theo dõi định kỳ tại các mốc thời gian 3, 6 và 12 tháng sau phẫu thuật ghi nhận điểm số vận động UPDRS của người bệnh được cải thiện rất rõ rệt và ổn định, đồng thời cho phép giảm từ 25% đến 50% liều lượng thuốc Levodopa hàng ngày, minh chứng cho sự làm chủ kỹ thuật điều biến thần kinh lập thể hiện đại tại Việt Nam.

Xu hướng nghiên cứu và triển vọng công nghệ điều biến thần kinh

Sự phát triển của chẩn đoán hình ảnh thần kinh hiện đại đang tiếp tục mở rộng tầm hiểu biết về nhóm nhân bụng đồi thị. Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ khuếch tán sức căng (DTI) và chụp bó sợi thần kinh (tractography) từ trường cao cho phép các nhà khoa học và bác sĩ lâm sàng bộc lộ trực tiếp các dải dẫn truyền chất trắng như bó gai thị, bó răng - đồi thị và các nhánh tận cùng của chúng ngay trên từng cá thể người bệnh trước khi tiến hành can thiệp.

Đồng thời, sự ra đời của công nghệ siêu âm tập trung cường độ cao dưới hướng dẫn cộng hưởng từ (MR-guided Focused Ultrasound - MRgFUS) đang mở ra hướng điều trị mới đầy triển vọng cho chứng run vô căn và Parkinson run chiếm ưu thế. Phương pháp này cho phép hội tụ chùm sóng siêu âm xuyên qua xương sọ nguyên vẹn để tạo tổn thương nhiệt chính xác tại nhân bụng trung gian đồi thị mà không cần rạch da hay mở nắp sọ. Việc kết hợp giữa hiểu biết giải phẫu vi thể chính xác của nhóm nhân bụng đồi thị với các công nghệ can thiệp xâm lấn tối thiểu hứa hẹn sẽ mang lại hiệu quả kiểm soát triệu chứng cho các bệnh lý rối loạn vận động phức tạp trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

Nhóm nhân bụng đồi thị gồm những nhân chính nào và chức năng của chúng là gì?

Nhóm nhân bụng đồi thị bao gồm ba phức hợp chính: nhân bụng trước (VA) nhận tín hiệu từ hạch nền để lập kế hoạch vận động; nhân bụng bên (VL / Vim) nhận tín hiệu từ tiểu não để điều phối và hiệu chỉnh vận động; và phức hợp nhân bụng sau (VPL và VPM) chuyển tiếp thông tin cảm giác thân thể và vị giác lên vỏ não cảm giác sơ cấp.

Nhân bụng trung gian (Vim) có vai trò gì trong phẫu thuật điều trị chứng run?

Nhân bụng trung gian (Vim) thuộc phức hợp nhân bụng bên là trạm chuyển tiếp vận động từ tiểu não lên vỏ não. Đây là cấu trúc đích kinh điển trong phẫu thuật kích thích não sâu (DBS) nhằm phát xung điện tần số cao ức chế các nhịp run bất thường, giúp kiểm soát hiệu quả triệu chứng run do run vô căn hoặc Parkinson thể ưu thế run.

Tổn thương nhồi máu nhóm nhân bụng đồi thị gây ra những biểu hiện lâm sàng nào?

Nhồi máu các nhánh động mạch đồi thị gối cấp máu cho nhóm nhân bụng dưới bên thường gây hội chứng đột quỵ cảm giác thuần túy đối bên và có thể tiến triển thành hội chứng đau trung ương đồi thị (hội chứng Dejerine - Roussy) với biểu hiện đau rát bỏng dữ dội và loạn cảm đau đề kháng thuốc.

Mô hình Sherman - Guillery phân loại cơ chế dẫn truyền qua nhóm nhân bụng đồi thị như thế nào?

Theo mô hình Sherman - Guillery, các nhân bụng đồi thị đóng vai trò trạm chuyển tiếp bậc một, trong đó các sợi động lực (drivers) từ các đường dẫn truyền dưới vỏ truyền tín hiệu thông tin chính lên vỏ não, còn các sợi điều biến (modulators) từ vỏ não và hệ lưới điều hòa chế độ phát xung của nơ-ron giữa trạng thái ngủ và thức tỉnh.

Tài liệu tham khảo

  1. Sherman, S. M., & Guillery, R. W. (2002). The role of the thalamus in the flow of information to the cortex. Philosophical Transactions of the Royal Society of London. Series B: Biological Sciences, 357(1428), 1695-1708. DOI: 10.1098/rstb.2002.1161
  2. Morel, A., Magnin, M., & Jeanmonod, D. (1997). Multiarchitectonic and stereotactic atlas of the human thalamus. The Journal of Comparative Neurology, 387(4), 588-630. DOI: 10.1002/(sici)1096-9861(19971103)387:4<588::aid-cne8>3.0.co;2-z
  3. Bogousslavsky, J., Regli, F., & Uske, A. (1988). Thalamic infarcts: clinical syndromes, etiology, and prognosis. Neurology, 38(6), 837-848. DOI: 10.1212/wnl.38.6.837
  4. Benabid, A. L., Pollak, P., Hoffmann, D., Gervason, C., Hommel, M., Perret, J. E., de Rougemont, J., & Gao, D. M. (1991). Long-term suppression of tremor by chronic stimulation of the ventral intermediate thalamic nucleus. The Lancet, 337(8738), 403-406. DOI: 10.1016/0140-6736(91)91175-t
  5. Trần Đình Văn, Đồng Văn Hệ, Nguyễn Anh Tuấn, Ngô Thị Huyền, & Nguyễn Mạnh Tiến. (2021). ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐẶT ĐIỆN CỰC KÍCH THÍCH NÃO SÂU ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ PARKINSON VÔ CĂN TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC. Tạp chí Y học Việt Nam, 503(1), 705-709. DOI: 10.51298/vmj.v503i1.705