Từ điển học thuật Khoa học tự nhiên

Lỗ đen lượng tử (quantum black hole) là gì?

Tiếng Anhquantum black hole

Tên gọi kháchố đen lượng tửmicro black hole

Lỗ đen lượng tử là đối tượng vật lý lý thuyết giả thuyết có kích thước cỡ thang độ dài Planck và khối lượng cỡ thang Planck, chịu sự chi phối đồng thời của thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử.

Cập nhật 2/10/2026

Lỗ đen lượng tử (quantum black hole), hay còn gọi là lỗ đen vi mô (micro black hole), là đối tượng vật lý lý thuyết giả thuyết có kích thước hình học xấp xỉ thang độ dài Planck và khối lượng tương đương thang khối lượng Planck, nơi đồng thời chịu sự chi phối chặt chẽ của hiệu ứng hấp dẫn phi tuyến theo thuyết tương đối rộng và hiệu ứng bất định lượng tử theo cơ học lượng tử. Khác biệt cơ bản với các lỗ đen thiên văn hình thành từ sự sụp đổ hấp dẫn của các ngôi sao khối lượng lớn trong vũ trụ, lỗ đen lượng tử thể hiện sự sụp đổ của bức tranh không-thời gian cổ điển trơn nhẵn và đòi hỏi một khuôn khổ hoàn chỉnh của lý thuyết hấp dẫn lượng tử để mô tả chính xác trạng thái vật lý. Mục từ này phân tích bản chất vật lý, cơ chế bức xạ và nhiệt động lực học, các mô hình lý thuyết vi mô, các giới hạn tìm kiếm thực nghiệm tại máy gia tốc hạt và vũ trụ học sơ khai, cùng những giới hạn và bài toán còn mở trong vật lý hiện đại.

Bản chất vật lý và các thang đo Planck

Trong vật lý cổ điển, một lỗ đen Schwarzschild phi tích điện và phi chuyển động quay được mô tả trọn vẹn bởi bán kính chân trời sự kiện rsr_s tỷ lệ thuận trực tiếp với khối lượng MM của nó thông qua hệ thức rs=2GM/c2r_s = 2GM/c^2, trong đó GG là hằng số hấp dẫn Newton và cc là vận tốc ánh sáng trong chân không. Khi xét đến cơ học lượng tử, một hạt có khối lượng MM luôn gắn liền với một bước sóng bất định vi mô gọi là bước sóng Compton suy giảm λC=ℏ/(Mc)\lambda_C = \hbar/(Mc), với ℏ\hbar là hằng số Planck rút gọn. Khái niệm lỗ đen lượng tử xuất hiện một cách tự nhiên khi kích thước hấp dẫn rsr_s tiến sát tới bước sóng lượng tử λC\lambda_C.

Khi thiết lập điều kiện cân bằng bậc độ lớn rs∼λCr_s \sim \lambda_C, khối lượng của hệ đạt tới thang khối lượng Planck MP=ℏc/GM_P = \sqrt{\hbar c / G}, có giá trị xấp xỉ 2.176e-8 kg, tương ứng năng lượng xấp xỉ 1.22e19 GeV theo Calmet và cs. (2014). Đồng thời, bán kính chân trời sự kiện co lại tương ứng với độ dài Planck ℓP=ℏG/c3\ell_P = \sqrt{\hbar G / c^3}, xấp xỉ 1.616e-35 m. Tại thang đo cực hạn này, độ cong không-thời gian đạt tới cấp độ lượng tử và mật độ năng lượng đạt tới xấp xỉ mật độ Planck. Ở quy mô này, khái niệm hình học vi phân cổ điển của Einstein mất đi hiệu lực định lượng, nhường chỗ cho các thăng giáng hình học không-thời gian lượng tử và bọt lượng tử.

Đặc tính vật lý Lỗ đen thiên văn (Stellar / SMBH) Lỗ đen lượng tử (Quantum / Micro)
Khối lượng đặc trưng Lớn hơn ba lần khối lượng Mặt Trời đến hàng tỷ khối lượng Mặt Trời Xấp xỉ thang khối lượng Planck (khoảng 2.176e-8 kg) hoặc thang TeV trong không gian nhiều chiều
Kích thước chân trời sự kiện Từ vài kilômét đến hàng tỷ kilômét Xấp xỉ độ dài Planck (khoảng 1.616e-35 m)
Nhiệt độ Hawking Cực kỳ thấp (cỡ phần tỷ Kelvin, thấp hơn nhiệt độ bức xạ phông vi sóng vũ trụ) Cực kỳ cao (vượt quá 1e31 Kelvin)
Thời gian bay hơi Vượt xa tuổi của vũ trụ hiện tại (trên 1e67 năm) Bay hơi gần như tức thời (dưới 1e-27 giây)
Bản chất chi phối Được mô tả chính xác bởi thuyết tương đối rộng cổ điển Đòi hỏi lý thuyết hấp dẫn lượng tử (lý thuyết dây, hấp dẫn lượng tử vòng)

Nhiệt động lực học lỗ đen và bức xạ Hawking

Sự ra đời của nhiệt động lực học lỗ đen bắt đầu từ công trình của Jacob Bekenstein vào năm 1973. Bekenstein (1973) lập luận rằng nếu lỗ đen không sở hữu entropy, định luật thứ hai của nhiệt động lực học sẽ bị vi phạm khi ném một vật thể có entropy qua chân trời sự kiện. Ông đã đề xuất định luật diện tích, chỉ ra rằng entropy của lỗ đen tỷ lệ thuận với diện tích chân trời sự kiện AA tính theo đơn vị diện tích Planck.

Đến năm 1975, Stephen Hawking công bố nghiên cứu mang tính bước ngoặt về lý thuyết trường lượng tử trong không-thời gian cong (Hawking, 1975). Hawking đã chứng minh rằng do các hiệu ứng thăng giáng chân không lượng tử tại lân cận chân trời sự kiện, các cặp hạt - phản hạt ảo liên tục được sinh ra. Khi một hạt mang năng lượng âm rơi vào trong chân trời sự kiện và hạt mang năng lượng dương thoát ra vô cùng, lỗ đen phát xạ một quang phổ nhiệt hoàn hảo tương ứng với vật đen tuyệt đối. Nhiệt độ Hawking THT_H được xác định qua công thức:

TH=ℏc38πGMkBT_H = \frac{\hbar c^3}{8 \pi G M k_B}

Trong công thức trên, kBk_B là hằng số Boltzmann, MM là khối lượng của lỗ đen, GG là hằng số hấp dẫn, cc là vận tốc ánh sáng và ℏ\hbar là hằng số Planck rút gọn. Công thức này cho thấy nhiệt độ Hawking tỷ lệ nghịch với khối lượng của lỗ đen. Đối với các lỗ đen thiên văn lớn, nhiệt độ này cực nhỏ và không thể quan sát trực tiếp. Tuy nhiên, đối với một lỗ đen lượng tử có khối lượng nhỏ, nhiệt độ Hawking đạt tới các giá trị khổng lồ, dẫn đến tốc độ bức xạ năng lượng mãnh liệt.

Kết hợp công thức nhiệt độ của Hawking với hệ thức nhiệt động lực học cơ bản, entropy Bekenstein-Hawking được chuẩn hóa chính xác với hệ số một phần tư:

SBH=kBc3A4Gℏ=kBA4ℓP2S_{BH} = \frac{k_B c^3 A}{4 G \hbar} = \frac{k_B A}{4 \ell_P^2}

Khi lỗ đen bức xạ các hạt mang năng lượng, khối lượng của nó giảm dần theo thời gian. Do nhiệt dung của lỗ đen Schwarzschild mang dấu âm, việc mất khối lượng làm cho nhiệt độ của nó tăng lên, dẫn tới tốc độ bức xạ tiếp tục tăng nhanh theo hàm phi tuyến. Bằng cách tích phân định luật bức xạ Stefan-Boltzmann bán cổ điển trên diện tích chân trời, thời gian tồn tại bán cổ điển τ\tau của một lỗ đen Schwarzschild trước khi cạn kiệt khối lượng được ước tính theo Calmet và cs. (2014):

τ=5120πG2M3ℏc4\tau = \frac{5120 \pi G^2 M^3}{\hbar c^4}

Công thức này chỉ ra rằng thời gian sống của lỗ đen tỷ lệ với lũy thừa bậc ba của khối lượng ban đầu. Khi khối lượng giảm dần tới sát thang Planck, gần thời điểm kết thúc chu trình bay hơi, các giả định của lý thuyết trường lượng tử bán cổ điển sụp đổ hoàn toàn vì bước sóng bức xạ phát ra tương đương với bán kính cong của chính lỗ đen, đòi hỏi lý thuyết hạt vi mô chính xác.

Nguồn gốc vi trạng thái và các mô hình hấp dẫn lượng tử

Mặc dù công thức entropy Bekenstein-Hawking xác định entropy vĩ mô thông qua diện tích hình học, một câu hỏi nền tảng của vật lý thống kê lượng tử được đặt ra: các vi trạng thái lượng tử nội tại cấu thành nên entropy này là gì? Theo nguyên lý Boltzmann, entropy phải tương ứng với logarit tự nhiên của số lượng cấu hình vi trạng thái Ω\Omega theo hệ thức S=kBln⁡ΩS = k_B \ln \Omega.

Bước tiến then chốt đầu tiên giải quyết câu hỏi này diễn ra vào năm 1996 bởi Andrew Strominger và Cumrun Vafa (Strominger & Vafa, 1996). Trong khuôn khổ lý thuyết dây (string theory), các tác giả đã xem xét một lớp lỗ đen cực hạn năm chiều mang điện tích bảo toàn, được xây dựng từ hệ thống màng D-brane giao nhau liên kết với các dây đóng và dây mở. Bằng cách đếm chính xác số lượng trạng thái kích thích vi mô của các màng D-brane tại khớp nối yếu rồi ngoại suy bảo toàn sang khớp nối mạnh nhờ đối xứng siêu đối xứng, Strominger và Vafa (1996) đã chứng minh rằng số vi trạng thái vi mô tái lập hoàn toàn chuẩn xác hệ số một phần tư của công thức entropy Bekenstein-Hawking:

Smicro=kBA4GℏS_{micro} = \frac{k_B A}{4 G \hbar}

Bên cạnh lý thuyết dây, trường phái hấp dẫn lượng tử vòng (loop quantum gravity) cũng tiếp cận bài toán nguồn gốc vi trạng thái từ một hướng độc lập. Trong hấp dẫn lượng tử vòng, không-thời gian không phải là một phông nền liên tục trơn nhẵn mà được lượng tử hóa thành các mạng lưới spin (spin network). Diện tích của chân trời sự kiện được cấu tạo từ các điểm đâm xuyên của các cạnh mạng spin mang các số lượng tử spin bán nguyên. Bằng việc đếm các trạng thái lượng tử của lý thuyết trường Chern-Simons cảm ứng trên mặt biên chân trời sự kiện, lý thuyết này cũng dẫn tới biểu thức entropy tỷ lệ với diện tích, giúp cố định tham số Immirzi của hấp dẫn lượng tử vòng.

Nghịch lý thông tin và đường cong Page

Sự bay hơi nhiệt của lỗ đen lượng tử dẫn trực tiếp tới một trong những nghịch lý sâu sắc nhất của vật lý hiện đại: nghịch lý thông tin lỗ đen (black hole information paradox), được Stephen Hawking chỉ ra năm 1975. Giả sử một hệ vật lý ở trạng thái lượng tử thuần khiết (pure state) với ma trận mật độ có độ bất định bằng không sụp đổ thành một lỗ đen. Khi lỗ đen bay hơi hoàn toàn thành bức xạ Hawking nhiệt hỗn loạn (mixed state) với entropy nhiệt động lực học cao, thông tin lượng tử ban đầu dường như bị xóa bỏ hoàn toàn. Điều này vi phạm trực tiếp tính đơn nhất (unitarity) của toán tử tiến hóa thời gian trong cơ học lượng tử, nguyên lý khẳng định tổng xác suất của mọi biến cố luôn được bảo toàn bằng một.

Để bảo toàn tính đơn nhất, Don Page từng dự đoán rằng entropy vướng víu lượng tử của bức xạ Hawking phát ra phải tuân theo một hàm diễn biến theo thời gian gọi là đường cong Page. Ban đầu, entropy vướng víu tăng dần khi các cặp hạt được sinh ra, nhưng sau thời điểm Page (khi lỗ đen mất đi khoảng một nửa entropy ban đầu), entropy vướng víu của bức xạ phải đảo chiều giảm dần về không khi lỗ đen bay hơi hết, giải phóng toàn bộ thông tin đã được mã hóa vào các tương quan lượng tử tinh tế giữa các photon và graviton bức xạ.

Tính đến năm 2021, nghịch lý thông tin đã đạt được bước ngoặt mang tính lịch sử nhờ các tính toán bán cổ điển mở rộng sử dụng công thức cực trị lượng tử (quantum extremal surface) và các hòn đảo lượng tử (islands), được tổng kết toàn diện bởi Almheiri và cs. (2021). Nhóm tác giả đã chứng minh rằng khi tính toán đúng đắn các đóng góp của các hình học tích phân đường qua các lỗ sâu lượng tử (spacetime wormholes), entropy hạt mịn của bức xạ Hawking quả thực tái hiện chính xác đường cong Page đơn nhất. Khám phá này củng cố mạnh mẽ nguyên lý toàn ảnh (holographic principle) và chỉ ra rằng lỗ đen lượng tử hoạt động như một hệ lượng tử hỗn loạn bình thường tuân thủ đầy đủ các định luật cơ học lượng tử.

Mô hình chiều không gian phụ và tìm kiếm thực nghiệm tại LHC

Trong khuôn khổ thuyết tương đối bốn chiều tiêu chuẩn, việc tạo ra một lỗ đen lượng tử đòi hỏi phải tập trung năng lượng tương đương thang khối lượng Planck xấp xỉ 1.22e19 GeV vào một thể tích kích thước độ dài Planck, mức năng lượng vượt xa khả năng của mọi máy gia tốc hạt nhân tạo trong tương lai gần. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ hai mươi, các mô hình chiều không gian phụ như mô hình ADD (Arkani-Hamed, Dimopoulos, Dvali) và mô hình Randall-Sundrum đã mở ra một khả năng mới.

Các mô hình này giả định rằng lực hấp dẫn có thể lan truyền tự do trong không gian nhiều chiều (bulk), trong khi các hạt và tương tác của Mô hình Chuẩn bị giam giữ trên một màng bốn chiều (brane). Do lực hấp dẫn suy giảm nhanh hơn trong không gian nhiều chiều ở khoảng cách siêu vi mô, thang Planck cơ bản thực sự của tự nhiên có thể không phải là 1.22e19 GeV mà chỉ ở cấp độ vài TeV. Nếu giả thuyết này đúng, các va chạm hạt năng lượng cao tại Máy gia tốc hạt lớn (LHC) thuộc CERN có thể vượt qua ngưỡng năng lượng Planck hiệu dụng, cho phép sản sinh các lỗ đen lượng tử vi mô.

Về mặt tín hiệu thực nghiệm, một lỗ đen lượng tử vi mô nếu được sinh ra sẽ bay hơi gần như ngay tức khắc thông qua bức xạ Hawking đa hạt. Khác với các quá trình tán xạ hạt thông thường của Mô hình Chuẩn thường tập trung phát xạ theo hướng các tia hẹp (jets) hoặc dọc theo trục chùm tia, bức xạ Hawking từ lỗ đen lượng tử có tính chất đẳng hướng nhiệt trong hệ quy chiếu khối tâm. Tín hiệu đặc trưng là sự bùng nổ đa hạt có độ bội hạt cao (high multiplicity) kết hợp với tổng năng lượng ngang cực lớn được chia sẻ cho nhiều loại hạt cơ bản khác nhau (quark, lepton, gluon, boson chuẩn).

Nhóm cộng tác CMS tại CERN đã thực hiện các phân tích thực nghiệm quy mô lớn nhằm tìm kiếm dấu vết của lỗ đen vi mô trong dữ liệu va chạm proton-proton ở năng lượng khối tâm 13 TeV (Sirunyan và cs., 2018). Báo cáo thực nghiệm của Sirunyan và cs. (2018) đã khảo sát các trạng thái cuối có độ bội hạt cao và công bố rằng:

"Không ghi nhận bất kỳ sự sai lệch có ý nghĩa thống kê nào so với phông dự đoán của Mô hình Chuẩn trong va chạm proton-proton tại năng lượng khối tâm 13 TeV."

Kết quả thực nghiệm này đã thiết lập các giới hạn dưới chặt chẽ cho khối lượng tối thiểu của lỗ đen lượng tử vi mô và thang hấp dẫn đa chiều, loại trừ các vùng tham số khối lượng dưới khoảng từ 7 TeV đến 9 TeV tùy thuộc vào số lượng chiều không gian phụ được xét. Các đánh giá an toàn thực nghiệm toàn diện tại CERN tính đến năm 2024 cũng xác nhận rằng các giả thuyết lỗ đen vi mô nếu xuất hiện cũng sẽ phân rã trong khoảng thời gian cực ngắn cỡ 1e-27 giây, hoàn toàn vô hại và không có khả năng tích tụ vật chất xung quanh, tương tự như các va chạm tự nhiên của tia vũ trụ năng lượng siêu cao trong bầu khí quyển Trái Đất suốt hàng tỷ năm qua.

Lỗ đen nguyên thủy trong vũ trụ học và ứng viên vật chất tối

Một nguồn gốc tiềm năng khác của lỗ đen lượng tử không đến từ các máy gia tốc nhân tạo mà đến từ vũ trụ học sơ khai. Trong giai đoạn lạm phát vũ trụ và thời kỳ sớm sau Big Bang, các thăng giáng mật độ lượng tử của trường vô hướng có thể bị kéo căng ra quy mô vũ trụ. Khi các thăng giáng này tái gia nhập chân trời vũ trụ, những vùng có mật độ vật chất vượt quá ngưỡng tới hạn có thể sụp đổ trực tiếp thành các lỗ đen nguyên thủy (primordial black holes, PBHs).

Theo tổng quan của Carr & Kühnel (2020), khối lượng của các lỗ đen nguyên thủy phụ thuộc chặt chẽ vào thời điểm chúng hình thành sau Big Bang. Những lỗ đen hình thành ở thời điểm khoảng 1e-23 giây sau Big Bang có khối lượng ban đầu nhỏ hơn 1e11 kg. Do thời gian sống của lỗ đen tỷ lệ với lập phương khối lượng, các lỗ đen nguyên thủy có khối lượng ban đầu dưới ngưỡng này đã bay hơi hoàn toàn thông qua bức xạ Hawking tính đến thời điểm hiện tại của vũ trụ.

Quá trình bay hơi hoàn toàn của các lỗ đen lượng tử nguyên thủy dẫn tới hai hệ quả vũ trụ học quan trọng:

  • Bức xạ nền tia gamma và hạt vũ trụ: Giai đoạn bùng nổ cuối cùng của lỗ đen lượng tử phóng thích một luồng hạt photon năng lượng cao và hạt phản vật chất. Các quan sát từ kính viễn vọng không gian tia gamma Fermi đã thiết lập các giới hạn trên nghiêm ngặt đối với mật độ cục bộ của các lỗ đen nguyên thủy đang bốc hơi.
  • Tàn dư Planck và vật chất tối: Nếu bức xạ Hawking không làm lỗ đen biến mất hoàn toàn mà dừng lại ở bậc khối lượng Planck do các hiệu ứng lượng tử bảo toàn trạng thái cơ bản, hệ thống sẽ để lại các tàn dư Planck (Planck remnants) trung hòa về điện và trơ về mặt nhiệt động lực học. Carr & Kühnel (2020) chỉ ra rằng các tàn dư khối lượng Planck này là một ứng viên vật lý tự nhiên giải thích cho toàn bộ hoặc một phần thành phần vật chất tối lạnh (cold dark matter) trong vũ trụ hiện đại.

Giới hạn lý thuyết và các bài toán còn mở

Mặc dù lỗ đen lượng tử cung cấp một phòng thí nghiệm lý thuyết phong phú cho việc kết hợp cơ học lượng tử và hấp dẫn, lĩnh vực này đối mặt với các giới hạn nội tại và những câu hỏi chưa có lời giải thỏa đáng:

  • Cấu trúc điểm kỳ dị trung tâm: Trong thuyết tương đối rộng cổ điển, tâm của lỗ đen chứa một điểm kỳ dị không-thời gian với độ cong vô hạn, nơi các định luật vật lý sụp đổ. Đa số các nhà vật lý lý thuyết tin rằng hiệu ứng hấp dẫn lượng tử sẽ loại bỏ điểm kỳ dị này, thay thế nó bằng một trạng thái nén lượng tử mật độ Planck (thường gọi là lõi Planck star hoặc cấu trúc mờ fuzzball trong lý thuyết dây). Tuy nhiên, phương trình trạng thái chính xác của vật chất ở mật độ này vẫn chưa được biết.
  • Giai đoạn bùng nổ cuối cùng: Khi khối lượng lỗ đen giảm xuống dưới khối lượng Planck, liệu lỗ đen có phát nổ hoàn toàn trong một xung bức xạ năng lượng cao, hay chuyển pha êm dịu thành tàn dư bền vững? Câu trả lời đòi hỏi một lý thuyết hoàn chỉnh vượt lên trên xấp xỉ trường lượng tử trong không-thời gian cong.
  • Thách thức thực nghiệm trực tiếp: Do thang Planck tự nhiên ở mức 1.22e19 GeV nằm ngoài khả năng tiếp cận thực nghiệm của các máy gia tốc hạt, phần lớn các kết luận hiện tại vẫn mang tính chất suy diễn lý thuyết. Do đó, việc quan sát trực tiếp và kiểm chứng các hiệu ứng lượng tử tại chân trời sự kiện vẫn là bài toán mở lớn của vật lý năng lượng cao.

Câu hỏi thường gặp

Lỗ đen lượng tử khác gì so với lỗ đen thiên văn thông thường?

Lỗ đen lượng tử có kích thước xấp xỉ độ dài Planck và khối lượng cỡ thang Planck, nhỏ hơn nhiều lần so với lỗ đen thiên văn. Do khối lượng cực nhỏ, nhiệt độ Hawking của lỗ đen lượng tử cực cao, khiến nó bay hơi gần như tức thời thay vì tồn tại bền vững qua hàng tỷ năm.

Lỗ đen lượng tử có thể được tạo ra tại Máy gia tốc hạt lớn (LHC) không?

Trong thuyết tương đối bốn chiều tiêu chuẩn, năng lượng cần thiết vượt xa khả năng của máy gia tốc nhân tạo. Các mô hình chiều không gian phụ dự đoán khả năng sinh lỗ đen vi mô ở thang TeV, nhưng các phân tích thực nghiệm của thí nghiệm CMS tại năng lượng 13 TeV chưa ghi nhận bất kỳ dấu vết nào.

Nghịch lý thông tin lỗ đen lượng tử là gì?

Nghịch lý thông tin xuất hiện khi một hệ vật lý ở trạng thái lượng tử thuần khiết sụp đổ thành lỗ đen rồi bay hơi hoàn toàn thành bức xạ nhiệt hỗn loạn, đe dọa phá vỡ tính đơn nhất của cơ học lượng tử. Các tính toán vào năm 2021 về đảo lượng tử (Almheiri và cs., 2021) chỉ ra rằng thông tin được bảo toàn và tuân theo đường cong Page.

Lỗ đen lượng tử có thể là thành phần của vật chất tối không?

Các lỗ đen nguyên thủy hình thành trong vũ trụ sơ khai có thể đã bay hơi hết hoặc để lại tàn dư khối lượng Planck ổn định. Các tàn dư Planck trung hòa về điện và trơ về nhiệt động lực học được xem là một ứng viên vật lý tự nhiên cho vật chất tối lạnh.

Tài liệu tham khảo

  1. Hawking, S. W. (1975). Particle creation by black holes. Communications in Mathematical Physics, 43(3), 199–220. DOI: 10.1007/bf02345020
  2. Bekenstein, J. D. (1973). Black holes and entropy. Physical Review D, 7(8), 2333–2346. DOI: 10.1103/physrevd.7.2333
  3. Strominger, A., & Vafa, C. (1996). Microscopic origin of the Bekenstein-Hawking entropy. Physics Letters B, 379(1-4), 99–104. DOI: 10.1016/0370-2693(96)00345-0
  4. Carr, B., & Kühnel, F. (2020). Primordial Black Holes as Dark Matter: Recent Developments. Annual Review of Nuclear and Particle Science, 70, 355–394. DOI: 10.1146/annurev-nucl-050520-125911
  5. Almheiri, A., Hartman, T., Maldacena, J., Shaghoulian, E., & Tajdini, A. (2021). The entropy of Hawking radiation. Reviews of Modern Physics, 93(3), 035002. DOI: 10.1103/revmodphys.93.035002
  6. Calmet, X., Carr, B., & Winstanley, E. (2014). Quantum Black Holes. SpringerBriefs in Physics, Springer Berlin Heidelberg. DOI: 10.1007/978-3-642-38939-9
  7. Sirunyan, A. M. và cs. (CMS Collaboration) (2018). Search for black holes and sphalerons in high-multiplicity final states in proton-proton collisions at 13 TeV. Journal of High Energy Physics, 2018(11), 042. DOI: 10.1007/JHEP11(2018)042