Hạch nách là tập hợp các hạch bạch huyết nằm trong khoang mỡ hố nách, có chức năng lọc dịch bạch huyết dẫn lưu từ tuyến vú, thành ngực và chi trên cùng bên, đóng vai trò sống còn trong việc đánh giá giai đoạn ung thư, tiên lượng và lập kế hoạch điều trị ung thư vú. Hơn bảy mươi lăm phần trăm lưu lượng bạch huyết từ tuyến vú đổ về hệ thống hạch nách, biến vùng này thành vị trí di căn hạch vùng đầu tiên và phổ biến nhất của bệnh ung thư biểu mô tuyến vú.
Phân loại giải phẫu ba chặng theo Berg
Trong phẫu thuật ngoại khoa, chuỗi hạch nách được phân chia dựa trên mối tương quan giải phẫu với cơ ngực bé:
| Chặng giải phẫu Berg | Vị trí tương quan với cơ ngực bé | Ý nghĩa phẫu thuật và di căn |
|---|---|---|
| Chặng I | Nằm ở phía ngoài bờ ngoài cơ ngực bé | Nơi tiếp nhận đầu tiên của dòng dẫn lưu từ tuyến vú, chứa nhóm hạch ngoài, hạch ngực trước và hạch dưới vai |
| Chặng II | Nằm ở phía sau (ngay dưới) thân cơ ngực bé | Chứa nhóm hạch trung tâm và hạch liên cơ ngực Rotter |
| Chặng III | Nằm ở phía trong bờ trong cơ ngực bé kéo dài đến đỉnh hố nách | Chứa nhóm hạch dưới đòn, khi di căn đến chặng này phản ánh bệnh đã tiến triển nặng |
Cách mạng sinh thiết hạch gác (Sentinel Lymph Node Biopsy)
Theo công trình tiên phong năm 2001 của Umberto Veronesi trên European Journal of Cancer và tổng kết kỹ thuật năm 2023 của Chintamani trên Nhà xuất bản Springer, kỹ thuật sinh thiết hạch cửa đã thay đổi hoàn toàn thực hành điều trị:
- Nguyên lý: Dựa trên giả thuyết rằng tế bào ung thư sẽ lan tràn tuần tự theo dòng bạch huyết đến một hoặc vài hạch đầu tiên gọi là hạch gác trước khi lan sang các hạch tiếp theo.
- Kỹ thuật định vị kép: Tiêm đồng vị phóng xạ Technetium-99m kết hợp thuốc nhuộm màu xanh methylen quanh u vú, sử dụng đầu dò gamma và quan sát trực tiếp để xác định và lấy chính xác hạch gác đem sinh thiết tức thì trong khi mổ.
- Giá trị lâm sàng: Nếu hạch gác âm tính với tế bào ác tính, bệnh nhân hoàn toàn không cần phải trải qua phẫu thuật vét toàn bộ hạch nách, giúp bảo tồn nguyên vẹn hệ thống mạch bạch huyết.
Thử nghiệm lâm sàng ACOSOG Z0011 và xu hướng giảm nhẹ can thiệp
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng mang tính lịch sử ACOSOG Z0011 do Armando Giuliano và cộng sự công bố năm 2011 trên tạp chí JAMA đã chứng minh rằng: Ở những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm (khối u kích thước dưới năm xentimet) có từ một đến hai hạch gác dương tính vi di căn nhưng được phẫu thuật bảo tồn tuyến vú kết hợp xạ trị toàn bộ vú và điều trị toàn thân, việc không nạo vét hạch nách chặng một và chặng hai không làm giảm tỷ lệ sống còn toàn bộ cũng như tỷ lệ sống không bệnh tái phát so với nhóm nạo vét triệt để.
Bước tiến này đã giải phóng hàng triệu bệnh nhân ung thư vú khỏi biến chứng phù bạch huyết cánh tay mạn tính đau đớn và cứng khớp vai sau phẫu thuật.