Hóa trị liều cao (high-dose chemotherapy) là một phương thức điều trị ung bướu chuyên sâu, sử dụng các thuốc hóa chất độc tế bào ở liều lượng vượt trội so với các phác đồ hóa trị tiêu chuẩn nhằm vượt qua cơ chế kháng thuốc của tế bào ác tính và đạt được tỷ lệ đáp ứng thuyên giảm tối đa. Do mức liều này vượt quá ngưỡng dung nạp an toàn của mô tủy xương, hóa trị liều cao bắt buộc phải đi kèm với kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu để phục hồi hệ thống sinh máu cho người bệnh.
Cơ sở dược lý học và Khái niệm Liều - Đáp ứng
Nền tảng sinh học của hóa trị liều cao dựa trên đường cong liều - đáp ứng dốc đứng của nhiều loại thuốc chống ung thư, đặc biệt là nhóm thuốc alkyl hóa. Đối với các khối u nhạy cảm với hóa chất nhưng đã phát triển các phân dòng kháng thuốc tương đối, việc tăng liều thuốc lên gấp nhiều lần có thể tiêu diệt hoàn toàn lượng tế bào u tồn dư tối thiểu.
Tuy nhiên, độc tính giới hạn liều của hầu hết các thuốc alkyl hóa chính là hiện tượng ức chế tủy xương nặng nề. Kỹ thuật thu thập tế bào gốc tạo máu trước khi truyền hóa chất và truyền trả lại cho bệnh nhân sau khi thuốc đã đào thải khỏi tuần hoàn giúp giải quyết rào cản độc tính huyết học này (Copelan, 2006).
Phân loại các phác đồ điều kiện hóa
Dựa trên mức độ ức chế và triệt phá tủy xương, các phác đồ hóa trị liều cao được phân thành các nhóm chính theo tổng quan của Gyurkocza và Sandmaier (2014):
| Nhóm phác đồ | Đặc điểm tác động tủy xương | Phác đồ tiêu biểu | Chỉ định phổ biến |
|---|---|---|---|
| Phác đồ diệt tủy hoàn toàn | Gây phá hủy tủy hoàn toàn không hồi phục nếu không ghép tế bào gốc | Melphalan liều cao, BuCy, BEAM | Đa u tủy xương, U lympho ác tính tái phát |
| Phác đồ giảm cường độ | Ức chế miễn dịch mạnh kết hợp ức chế tủy vừa phải | Fludarabine kết hợp Melphalan liều trung bình | Bệnh nhân cao tuổi hoặc có bệnh lý nền phối hợp |
| Phác đồ không diệt tủy | Ức chế miễn dịch tối thiểu, tạo điều kiện cho tế bào ghép mọc | Fludarabine kết hợp Xạ trị toàn thân liều thấp | Ghép dị ghép nhằm khai thác hiệu ứng mảnh ghép chống u |
Quy trình lâm sàng và Theo dõi người bệnh
Quá trình thực hiện hóa trị liều cao bao gồm các giai đoạn kế tiếp nhau:
- Huy động và gạn tách tế bào gốc: Kích thích tủy xương bằng yếu tố tăng trưởng dòng bạch cầu hạt và gạn tách tế bào gốc từ máu ngoại vi qua máy tách tế bào, sau đó bảo quản đông lạnh sâu trong nitơ lỏng.
- Truyền hóa chất điều kiện hóa: Bệnh nhân được điều trị trong phòng cách ly vô trùng áp lực dương và truyền các hóa chất liều cao theo lịch trình định sẵn.
- Truyền hoàn tế bào gốc: Rã đông nhanh và truyền tế bào gốc trở lại qua đường tĩnh mạch trung tâm.
- Giai đoạn suy tủy và hồi phục: Dự phòng nhiễm trùng bằng kháng sinh, kháng nấm, truyền hồng cầu và tiểu cầu trong giai đoạn chờ mảnh ghép mọc tủy thành công.
Ứng dụng lâm sàng và Thực tiễn tại Việt Nam
Hóa trị liều cao kết hợp ghép tế bào gốc tự thân là tiêu chuẩn vàng trong điều trị ban đầu cho bệnh nhân đa u tủy xương đủ điều kiện sức khỏe, cũng như điều trị cứu vãn cho bệnh nhân u lympho tái phát và ung thư tinh hoàn kháng thuốc (Bamias và Dimopoulos, 2010).
Tại Việt Nam, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Truyền máu Huyết học TP. Hồ Chí Minh và Bệnh viện Trung ương Huế đã thực hiện thành công hàng nghìn ca ghép tế bào gốc tự thân và đồng loài với tỷ lệ thành công tương đương các trung tâm ghép tủy trong khu vực.
Độc tính ngoài tủy và Biến chứng muộn
Mặc dù ghép tế bào gốc giải quyết được độc tính tạo máu, hóa trị liều cao vẫn tiềm ẩn các nguy cơ độc tính cơ quan:
- Viêm loét niêm mạc đường tiêu hóa nặng nề đòi hỏi nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn.
- Hội chứng tắc xoang tĩnh mạch gan liên quan đến các dẫn xuất Busulfan.
- Độc tính tim mạch và viêm phổi kẽ vô khuẩn liên quan đến Cyclophosphamide và Carmustine.
- Nguy cơ phát triển các ung thư biểu mô thứ phát hoặc hội chứng rối loạn sinh tủy muộn sau nhiều năm.