Từ điển học thuật Kỹ thuật và công nghệ

Dòng chảy viscoelastic là gì? Cơ chế và phương trình lưu biến

Tiếng AnhViscoelastic flow

Tên gọi khácdòng chảy nhớt đàn hồidòng chảy đàn nhớtviscoelastic flow

Dòng chảy viscoelastic là dạng chuyển động của các chất lưu phi Newton vừa có khả năng tiêu tán năng lượng do ma sát nhớt vừa tích trữ và hồi phục năng lượng biến dạng cơ học.

Cập nhật 11/9/2026

Dòng chảy viscoelastic là dạng chuyển động phức hợp của các chất lưu vừa có khả năng tiêu tán năng lượng theo cơ chế ma sát nhớt, vừa có khả năng tích trữ và hồi phục năng lượng biến dạng cơ học theo cơ chế đàn hồi. Bài viết này trình bày nền tảng vật lý học, các phương trình cấu tạo liên tục, các hiện tượng lưu biến phi tuyến đặc trưng và những thách thức tính toán số trong thủy động lực học chất lưu nhớt đàn hồi.

Bản chất vật lý và cơ chế vi mô của tính nhớt đàn hồi

Trong cơ học môi trường liên tục cổ điển, trạng thái vật chất lỏng thường được mô tả bằng định luật độ nhớt của Newton, trong đó ứng suất tiếp tuyến tỷ lệ thuận trực tiếp với tốc độ biến dạng trượt, và năng lượng cơ học bị chuyển hóa hoàn toàn thành nhiệt lượng tiêu tán. Ngược lại, vật chất rắn lý tưởng tuân theo định luật Hooke, trong đó ứng suất tỷ lệ thuận với độ biến dạng, và toàn bộ thế năng biến dạng được tích trữ đàn hồi để phục hồi trạng thái ban đầu khi ngoại lực ngừng tác dụng. Dòng chảy viscoelastic xuất hiện ở các hệ chất lưu trung gian giữa hai trạng thái lý tưởng này, điển hình là dung dịch polyme nồng độ khác nhau, khối chất dẻo nóng chảy, nhũ tương đậm đặc và các loại dịch sinh học như chất nhầy hoặc dịch bao hoạt dịch khớp.

Ở cấp độ vi mô, tính nhớt đàn hồi bắt nguồn từ cấu trúc hình học và động học linh hoạt của các chuỗi đại phân tử polyme hoặc cấu trúc vi mô dạng mạng lưới. Khi chất lưu ở trạng thái nghỉ, các chuỗi phân tử cuộn lại một cách ngẫu nhiên dưới dạng các búi cuộn cân bằng nhiệt để tối đa hóa entropy cấu hình. Khi dòng chảy xuất hiện, trường vận tốc cục bộ và các gradient biến dạng trượt hoặc kéo sẽ tác dụng lực thủy động học lên chuỗi đại phân tử, làm chúng bị tháo cuộn, định hướng và kéo dãn dọc theo các đường dòng. Quá trình kéo dãn này chống lại xu hướng hồi phục entropy tự nhiên của chuỗi phân tử, dẫn đến sự tích tụ thế năng đàn hồi nội tại trong môi trường liên tục.

Khi trường lực biến dạng ngừng lại hoặc biến thiên theo thời gian, các phân tử polyme không thể trở về cấu hình cân bằng ngay lập tức mà cần một khoảng thời gian nhất định để chuyển động Brown đưa chúng tái lập trạng thái cuộn ngẫu nhiên ban đầu. Khoảng thời gian đặc trưng cho quá trình tái lập trạng thái cân bằng nội tại này được định nghĩa là thời gian hồi phục của chất lưu. Sự chậm trễ giữa thời điểm tác dụng lực và phản ứng biến dạng của cấu trúc vi mô chính là nguồn gốc tạo nên tính chất nhớ đàn hồi theo lịch sử biến dạng của dòng chảy.

Các số không thứ nguyên đặc trưng

Để đánh giá mức độ chi phối của hiệu ứng đàn hồi trong một bài toán dòng chảy cụ thể, cơ học chất lưu phi Newton sử dụng hai đại lượng không thứ nguyên then chốt là số Deborah và số Weissenberg.

Khái niệm số Deborah được đề xuất vào năm 1964 bởi nhà lưu biến học Markus Reiner trong bài báo nổi tiếng đăng trên tạp chí Physics Today. Lấy cảm hứng từ câu ca ngợi trong Kinh Thánh ngụ ý rằng ngay cả những dãy núi kiên cố cũng có thể chảy ra trước sự chứng kiến của thời gian vô tận, Reiner đã định nghĩa số Deborah như tỷ số giữa thời gian hồi phục nội tại của vật liệu và thời gian quan sát đặc trưng của dòng chảy:

De=λtflowDe = \frac{\lambda}{t_{\text{flow}}}

trong đó λ\lambda là thời gian hồi phục và tflowt_{\text{flow}} là thang thời gian quan sát dòng chảy. Nếu thời gian quan sát rất dài so với thời gian hồi phục, số Deborah tiến dần về không, chất lưu có đủ thời gian để giải phóng toàn bộ năng lượng biến dạng và biểu hiện hành vi nhớt thuần túy. Ngược lại, nếu thời gian quá trình diễn ra quá nhanh khiến số Deborah vượt xa ngưỡng cơ bản, chất lưu không kịp giải tỏa ứng suất và phản ứng cơ học sẽ mang tính chất đàn hồi tương tự như chất rắn.

Bên cạnh số Deborah, số Weissenberg phản ánh mức độ phi tuyến sinh ra do tốc độ biến dạng trượt trong trường dòng chảy cục bộ:

Wi=λγ˙Wi = \lambda \dot{\gamma}

trong đó γ˙\dot{\gamma} là tốc độ trượt đặc trưng của dòng chảy. Số Weissenberg đo lường tỷ số giữa lực đàn hồi sinh ra do sự kéo dãn phân tử và lực nhớt thông thường. Khi giá trị này gia tăng vượt quá ngưỡng đơn vị 1, sự dị hướng ứng suất trong chất lưu trở nên áp đảo và làm biến đổi hoàn toàn cấu trúc trường dòng so với dòng chảy chất lưu Newton tương ứng.

Mô hình cấu tạo liên tục và phương trình Oldroyd-B

Để mô tả định lượng trường ứng suất và vận tốc trong dòng chảy, các nhà cơ học chất lưu phải thiết lập các phương trình trạng thái cấu tạo thỏa mãn nguyên lý bất biến hệ quy chiếu. Năm 1950, James G. Oldroyd đã công bố công trình nền tảng trên Kỷ yếu Hội Hoàng gia London, thiết lập một khung toán học chặt chẽ để xây dựng các phương trình lưu biến cho môi trường liên tục đồng nhất.

Trong hệ phương trình bảo toàn động lượng tổng quát:

ρ(ut+uu)=p+τ\rho \left( \frac{\partial \mathbf{u}}{\partial t} + \mathbf{u} \cdot \nabla \mathbf{u} \right) = -\nabla p + \nabla \cdot \boldsymbol{\tau}

tenxơ ứng suất phụ τ\boldsymbol{\tau} trong mô hình Oldroyd-B được phân tách thành hai thành phần đóng góp độc lập: thành phần nhớt thuần của dung môi và thành phần đàn hồi của chuỗi polyme:

τ=2ηsD+τp\boldsymbol{\tau} = 2 \eta_s \mathbf{D} + \boldsymbol{\tau}_p

trong đó ηs\eta_s là độ nhớt dung môi, D=12(u+(u)T)\mathbf{D} = \frac{1}{2}(\nabla \mathbf{u} + (\nabla \mathbf{u})^T) là tenxơ tốc độ biến dạng. Ứng suất polyme τp\boldsymbol{\tau}_p tuân theo phương trình vi phân cấu tạo đối lưu trên:

τp+λτp=2ηpD\boldsymbol{\tau}_p + \lambda \overset{\triangledown}{\boldsymbol{\tau}}_p = 2 \eta_p \mathbf{D}

Ký hiệu τp\overset{\triangledown}{\boldsymbol{\tau}}_p biểu diễn đạo hàm đối lưu trên theo thời gian, được định nghĩa nhằm đảm bảo tính độc lập với chuyển động tịnh tiến và quay của hệ tọa độ quan sát:

τp=τpt+uτp(u)Tτpτpu\overset{\triangledown}{\boldsymbol{\tau}}_p = \frac{\partial \boldsymbol{\tau}_p}{\partial t} + \mathbf{u} \cdot \nabla \boldsymbol{\tau}_p - (\nabla \mathbf{u})^T \cdot \boldsymbol{\tau}_p - \boldsymbol{\tau}_p \cdot \nabla \mathbf{u}

Mô hình Oldroyd-B giải thích rất thành công nhiều đặc tính đàn hồi cơ bản của dung dịch polyme loãng, đặc biệt là sự tồn tại của chênh lệch ứng suất pháp tuyến thứ nhất không đổi theo bình phương tốc độ trượt.

Các hiện tượng lưu biến phi tuyến đặc thù

Sự hiện diện của thành phần đàn hồi tạo nên những hiện tượng thủy động lực học độc đáo, hoàn toàn trái ngược với trực giác quan sát được ở các chất lỏng thông thường:

  • Hiệu ứng Weissenberg (hiệu ứng trèo que): Khi một thanh trụ tròn được nhúng thẳng đứng vào cốc chất lỏng nhớt đàn hồi và quay quanh trục với vận tốc góc ổn định, thay vì bị bề mặt lõm xuống ở tâm do lực quán tính ly tâm như nước, chất lưu nhớt đàn hồi lại di chuyển hướng tâm và trèo ngược lên thân que quay. Hiện tượng này xuất hiện do các đường sức căng ứng suất pháp tuyến bao quanh chuỗi phân tử đóng vai trò như những chiếc vòng cao su bị kéo căng, tạo ra một áp lực hướng tâm bóp chất lưu dâng lên cao.
  • Hiện tượng trương phồng tia đùn: Khi một khối polyme nóng chảy được ép chảy qua ống dẫn hẹp rồi thoát ra ngoài không khí qua miệng đùn, đường kính của tia chất lỏng sau miệng đùn có thể phình to gấp nhiều lần đường kính của lỗ thoát. Nguyên nhân là các chuỗi đại phân tử bị kéo giãn mạnh mẽ dọc theo chiều dọc trong quá trình chảy qua ống hẹp, và ngay khi thoát khỏi ranh giới thành cứng bị giam cầm, chúng co rút đàn hồi lại theo chiều dọc và nở rộng kích thước theo phương ngang.
  • Hiện tượng sụt giảm độ nhớt khi cắt: Ở nhiều hệ chất lưu nhớt đàn hồi phức tạp, độ nhớt biểu kiến suy giảm mạnh mẽ khi tốc độ trượt tăng lên do các đại phân tử được sắp xếp song song nhau làm giảm lực cản nội tại.

Mất ổn định đàn hồi và nhiễu loạn đàn hồi

Trong cơ học chất lưu cổ điển của Newton, trạng thái dòng chảy tầng chỉ chuyển sang trạng thái nhiễu loạn hỗn loạn khi số Reynolds đạt giá trị rất cao, phản ánh sự áp đảo của lực quán tính phi tuyến so với lực tiêu tán nhớt. Tuy nhiên, các dòng chảy nhớt đàn hồi lại sở hữu một cơ chế mất ổn định hoàn toàn khác biệt.

Như được tổng quan hệ thống bởi R. G. Larson vào năm 1992 trên tạp chí Rheologica Acta, các dòng chảy có đường dòng cong có thể phát sinh các dạng mất ổn định đàn hồi thuần túy ngay cả khi số Reynolds cực kỳ nhỏ, nghĩa là quán tính hoàn toàn có thể bỏ qua. Lực căng dọc theo các đường dòng cong tạo ra một lực đẩy hướng tâm gây mất cân bằng động học, hình thành các cấu trúc cuộn xoáy thứ cấp tuần hoàn.

Đặc biệt, vào năm 2000, hai nhà vật lý Alexander Groisman và Victor Steinberg đã công bố trên tạp chí Nature việc phát hiện hiện tượng nhiễu loạn đàn hồi trong dòng chảy dung dịch polyme loãng. Dù số Reynolds ở mức vô cùng thấp xấp xỉ không, nhưng khi số Weissenberg vượt qua ngưỡng tới hạn, dòng chảy vẫn xuất hiện sự dao động vận tốc hỗn loạn ngẫu nhiên trên một dải phổ tần số và không gian rộng lớn, đi kèm với sự gia tăng đột biến của hệ số cản thủy lực. Hiện tượng này mở ra những hướng ứng dụng đột phá trong việc tăng cường hiệu quả hòa trộn chất lỏng trong các kênh vi lưu y sinh học, nơi mà các dòng chảy Newton bị giam cầm vĩnh viễn trong chế độ chảy tầng êm ả.

Bảng so sánh đặc tính thủy động lực học

Bảng dưới đây tóm tắt các điểm khác biệt bản chất giữa dòng chảy chất lưu Newton kinh điển và dòng chảy nhớt đàn hồi:

Tiêu chí so sánh Dòng chảy chất lưu Newton Dòng chảy nhớt đàn hồi
Quan hệ ứng suất và biến dạng Tuyến tính, tức thời và cục bộ Phi tuyến, phụ thuộc lịch sử thời gian
Hiệu ứng ứng suất pháp tuyến Triệt tiêu hoàn toàn trong dòng trượt đơn Tồn tại chênh lệch ứng suất dương lớn
Hành vi khi quay quanh trục Lõm bề mặt tự do do lực ly tâm Trèo ngược lên que quay
Dạng tia phun sau miệng đùn Đường kính tia không đổi hoặc co nhẹ Trương phồng nở rộng kích thước tia
Cơ chế chuyển sang nhiễu loạn Quán tính phi tuyến ở số Reynolds cao Mất ổn định đàn hồi ở số Weissenberg cao
Ứng dụng kỹ thuật tiêu biểu Khí động học, thủy lực đường ống nước Đùn ép nhựa, công nghệ in 3D sinh học

Thách thức tính toán số và giải pháp log-conformation

Mô phỏng số dòng chảy nhớt đàn hồi bằng các phương pháp phần tử hữu hạn hoặc thể tích hữu hạn luôn là một trong những bài toán tính toán cơ học khó khăn nhất. Khó khăn kinh điển được biết đến trong cộng đồng khoa học dưới tên gọi bài toán số Weissenberg cao.

Khi mô phỏng các bài toán kỹ thuật thực tế như dòng chảy qua kênh co thắt đột ngột, quanh chướng ngại vật hình trụ hoặc miệng phun đùn, các vùng lân cận điểm kỳ dị hình học tập trung gradient ứng suất cực lớn. Trong các thuật toán giải số truyền thống, trường tenxơ ứng suất có xu hướng tăng trưởng theo hàm mũ dọc theo các đường dòng. Khi số Weissenberg tăng vượt quá ngưỡng giá trị nhỏ, thường nằm trong khoảng từ 1 đến 5 gần các vị trí co hẹp, sai số làm tròn số học và sai số xấp xỉ không gian khiến tenxơ cấu hình bị mất tính chất xác định dương bắt buộc. Điều này dẫn đến sự mất ổn định số học nghiêm trọng, gây ra các dao động giả tạo và khiến quá trình lặp của lời giải toán học bị phân kỳ hoàn toàn.

Để khắc phục triệt để vấn đề này, vào năm 2004, Raanan Fattal và Raz Kupferman đã công bố trên Tạp chí Cơ học Chất lưu Phi Newton phương pháp biểu diễn ma trận logarit của tenxơ cấu hình. Thay vì giải trực tiếp phương trình vi phân cho tenxơ cấu hình, phương pháp này thực hiện phép đổi biến toán học sang logarit tự nhiên của tenxơ. Nhờ tính chất của phép biến đổi logarit, sự tăng trưởng hàm mũ của ứng suất được chuyển hóa thành sự biến thiên tuyến tính êm dịu trong không gian tính toán, đồng thời bảo toàn tuyệt đối tính xác định dương của tenxơ cấu hình dưới mọi giá trị của số Weissenberg. Đột phá này đã đặt nền tảng phương pháp luận vững chắc cho các bộ phần mềm mô phỏng dòng chảy polyme hiện đại ngày nay.

Câu hỏi thường gặp

Dòng chảy viscoelastic khác gì so với dòng chảy Newton thông thường?

Khác với chất lưu Newton chỉ có tính tiêu tán năng lượng ma sát, dòng chảy viscoelastic sở hữu bộ nhớ cơ học, có khả năng tích trữ và hồi phục năng lượng biến dạng đàn hồi nhờ sự giãn xoắn của các chuỗi đại phân tử.

Số Deborah và số Weissenberg phản ánh điều gì trong dòng chảy nhớt đàn hồi?

Số Deborah so sánh thời gian hồi phục của vật liệu với thời gian quan sát dòng chảy, trong khi số Weissenberg đo lường tỷ số giữa ứng suất đàn hồi sinh ra do biến dạng và ứng suất nhớt thông thường.

Hiệu ứng Weissenberg hay hiệu ứng trèo que xảy ra do cơ chế nào?

Hiện tượng chất lưu trèo ngược lên thanh quay sinh ra do sự chênh lệch ứng suất pháp tuyến dương, tạo ra lực căng dọc theo các đường dòng khép kín tác dụng một áp lực hướng tâm đẩy chất lưu dâng cao.

Phương pháp log-conformation giải quyết thách thức nào trong mô phỏng số?

Phương pháp của Fattal và Kupferman giải quyết bài toán số Weissenberg cao bằng cách đổi biến sang ma trận logarit của tenxơ cấu hình, ngăn ngừa sự phân kỳ thuật toán và bảo toàn tính xác định dương của ứng suất.

Tài liệu tham khảo

  1. Oldroyd, J. G. (1950). On the formulation of rheological equations of state. Proceedings of the Royal Society of London. Series A. Mathematical and Physical Sciences, 200(1063), 523-541. DOI: 10.1098/rspa.1950.0035
  2. Reiner, M. (1964). The Deborah Number. Physics Today, 17(1), 62. DOI: 10.1063/1.3051374
  3. Larson, R. G. (1992). Instabilities in viscoelastic flows. Rheologica Acta, 31(3), 213-263. DOI: 10.1007/bf00366504
  4. Groisman, A., & Steinberg, V. (2000). Elastic turbulence in a polymer solution flow. Nature, 405(6782), 53-55. DOI: 10.1038/35011019
  5. Fattal, R., & Kupferman, R. (2004). Constitutive laws for the matrix-logarithm of the conformation tensor. Journal of Non-Newtonian Fluid Mechanics, 123(2-3), 281-285. DOI: 10.1016/j.jnnfm.2004.08.008