CT ngực (chest computed tomography) là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh cắt lớp vi tính lồng ngực sử dụng tia X và thuật toán máy tính nhằm cung cấp hình ảnh chi tiết nhu mô phổi, trung thất và mạch máu ngực.
Nguyên lý chụp cắt lớp vi tính lồng ngực và các kỹ thuật thực hiện
Chụp cắt lớp vi tính ngực (Chest CT) khắc phục triệt để nhược điểm chồng ảnh của phim X-quang ngực quy ước. Máy phát tia X quay quanh trục cơ thể bệnh nhân đồng thời phát chùm tia hình quạt, trong khi các đầu thu (detectors) đo lường độ suy giảm cường độ tia X qua từng mô cơ thể (tính theo đơn vị Hounsfield - HU). Hệ thống máy tính phân giải các dữ liệu thô này thành các lớp cắt mỏng ngang trục (axial) và tái tạo theo mặt phẳng đứng dọc (sagittal) hoặc đứng ngang (coronal).
Các kỹ thuật chụp CT ngực chính trong thực hành lâm sàng bao gồm:
- CT ngực thông thường có tiêm thuốc cản quang (Contrast-enhanced CT): Tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch chứa iod giúp làm sáng rõ cấu trúc lòng mạch, đánh giá tưới máu u phổi, phân biệt u với hạch trung thất và phát hiện huyết khối động mạch phổi hoặc phình bóc tách động mạch chủ.
- CT ngực độ phân giải cao (High-Resolution CT - HRCT): Sử dụng lớp cắt siêu mỏng (từ 0.625 mm đến 1.25 mm) kết hợp thuật toán tái tạo sắc nét biên độ cao, không tiêm thuốc cản quang, chuyên biệt để khảo sát chi tiết tiểu thùy phổi thứ cấp trong các bệnh lý phổi kẽ lan tỏa và giãn phế quản.
- CT ngực liều thấp (Low-Dose CT - LDCT): Giảm thiểu tối đa liều bức xạ phát ra (dưới 1.5 mSv so với mức 7 mSv của CT thông thường), được chuẩn hóa trên toàn cầu làm phương tiện tầm soát sớm ung thư phổi ở các đối tượng có nguy cơ cao (người hút thuốc lá nhiều năm).
Bảng đối chiếu các dấu hiệu hình ảnh bệnh lý phổi điển hình trên CT ngực
| Dấu hiệu hình ảnh CT | Đặc điểm giải phẫu bệnh | Nguyên nhân bệnh lý hàng đầu | Ý nghĩa chẩn đoán |
|---|---|---|---|
| Kính mờ (Ground-Glass Opacity - GGO) | Mờ nhu mô phổi nhưng vẫn nhìn thấy rõ bóng mạch máu và đường thở bên dưới | Viêm phổi kẽ, viêm phổi do virus (SARS-CoV-2), xuất huyết phế nang, ung thư biểu mô tuyến tại chỗ | Tổn thương lấp đầy phế nang một phần hoặc dày mô kẽ phế nang giai đoạn sớm |
| Đông đặc phổi (Consolidation) | Tăng đậm độ đồng nhất xóa mờ toàn bộ cấu trúc mạch máu, thường kèm dấu hiệu phế quản khí | Viêm phổi thùy do vi khuẩn (phế cầu), nhồi máu phổi, phù phổi cấp phế nang | Không khí trong lòng phế nang bị thay thế hoàn toàn bởi dịch rỉ viêm, máu hoặc tế bào mủ |
| Hình tổ ong (Honeycombing) | Các nang khí vách dày kích thước 3 - 10 mm xếp thành nhiều lớp sát màng phổi tạng | Xơ phổi vô căn (Idiopathic Pulmonary Fibrosis - IPF), viêm phổi kẽ thông thường (UIP) | Tổn thương xơ hóa cấu trúc phổi giai đoạn cuối không thể hồi phục |
| Hình cành cây nở hoa (Tree-in-Bud) | Các nốt mờ nhỏ trung tâm tiểu thùy gắn liền với các nhánh phế quản phân nhánh | Nhiễm trùng đường thở nhỏ (Lao phổi tiến triển, NTM, viêm tiểu phế quản nhiễm trùng) | Chất nhầy hoặc mủ làm căng giãn lòng các tiểu phế quản tận và tiểu phế quản hô hấp |
| Dấu hiệu khuyết thuốc lòng mạch (Filling Defect) | Vùng giảm đậm độ nội mạc lòng động mạch phổi trên thì chụp mạch cản quang | Thuyên tắc huyết khối động mạch phổi cấp tính (PE) | Cấp cứu tim mạch khẩn cấp đe dọa suy thất phải cấp và sốc tim |
Quy trình tầm soát ung thư phổi và hệ thống thang điểm Lung-RADS
Chụp CT liều thấp (LDCT) hàng năm đã được chứng minh giúp giảm 20% tỷ lệ tử vong do ung thư phổi nhờ phát hiện nốt phổi ở giai đoạn sớm có thể phẫu thuật triệt căn. Để chuẩn hóa việc xử trí nốt phổi đơn độc, Hiệp hội Điện quang Hoa Kỳ (ACR) ban hành hệ thống phân loại Lung-RADS:
- Lung-RADS 1 - 2 (Nguy cơ ác tính < 1%): Phim âm tính hoặc nốt lành tính (chứa vôi hóa điển hình, nốt mỡ u mô thừa). Khuyến cáo tiếp tục tầm soát định kỳ sau 12 tháng.
- Lung-RADS 3 (Nguy cơ ác tính 1 - 2%): Nốt đặc từ 6 mm đến dưới 8 mm hoặc nốt bán đặc mới phát hiện. Khuyến cáo chụp kiểm tra lại LDCT sau 6 tháng.
- Lung-RADS 4A - 4B (Nguy cơ ác tính 5 - 15% hoặc > 15%): Nốt đặc lớn từ 8 mm trở lên, bờ tua gai, có thành phần bán đặc tăng kích thước hoặc nốt mới xuất hiện. Chỉ định chụp PET-CT, chụp CT ngực tương phản lớp mỏng sau 3 tháng hoặc thực hiện sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn CT.