Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Bệnh màng trong là gì? Ý nghĩa và ứng dụng chuyên sâu

Tiếng AnhHyaline membrane disease / Respiratory distress syndrome (RDS)

Bệnh màng trong (hội chứng suy hô hấp cấp ở trẻ sơ sinh - RDS) là tình trạng suy hô hấp tiến triển nặng xảy ra chủ yếu ở trẻ sinh non do sự thiếu hụt chất hoạt diện surfactant phế nang, dẫn đến xẹp phổi lan tỏa, giảm trao đổi khí và hình thành lớp màng hyaline lót lòng phế nang.

283 lượt xem Cập nhật 8/9/2026

Bệnh màng trong (Hyaline membrane disease / Respiratory distress syndrome (RDS)) là (hội chứng suy hô hấp cấp ở trẻ sơ sinh - RDS) là tình trạng suy hô hấp tiến triển nặng xảy ra chủ yếu ở trẻ sinh non do sự thiếu hụt chất hoạt diện surfactant phế nang, dẫn đến xẹp phổi lan tỏa, giảm trao đổi khí và hình thành lớp màng hyaline lót lòng phế nang.

Bệnh màng trong có thể gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm vi khuẩn, virus, nấm hoặc các tác nhân gây viêm khác. Một số bệnh màng trong phổ biến bao gồm:

1. Viêm màng phổi: Còn được gọi là viêm màng hoặc viêm phổi màng phổi, đây là một tình trạng viêm nhiễm của màng phổi. Gây ra các triệu chứng như đau ngực, khó thở, sốt và ho kèm theo đờm.

2. Viêm màng gan: Là tình trạng viêm nhiễm của màng gan. Có thể gây ra đau vùng bên phải trong bụng, mệt mỏi, buồn nôn và sốt.

3. Viêm màng dạ dày: Là một bệnh viêm nhiễm của màng dạ dày. Gây ra đau bụng, buồn nôn, nôn mửa và khó tiêu.

4. Viêm màng tuỷ sống: Đây là một tình trạng viêm nhiễm của màng bao quanh tuỷ sống. Gây ra đau lưng, cứng cổ, sốt và nhức đầu.

5. Viêm màng não: Là tình trạng viêm nhiễm của màng bao quanh não và tủy sống. Gây ra đau đầu cực kỳ nghiêm trọng, cùng với sốt, buồn nôn và co giật.

Điều trị cho bệnh màng trong phụ thuộc vào nguyên nhân cụ thể. Thường thì bao gồm sử dụng kháng sinh, thuốc chống viêm và thuốc giảm đau để giảm triệu chứng và điều trị nhiễm trùng. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, phẫu thuật có thể cần thiết để lấy bỏ màng nhiễm trùng hoặc xử lý vấn đề gốc.

Vì mỗi bệnh màng trong có nguyên nhân và triệu chứng cụ thể, dưới đây là một số thông tin chi tiết về một số bệnh màng trong phổ biến:

1. Viêm màng phổi: Bệnh này thường xảy ra khi vi khuẩn như Streptococcus pneumoniae hoặc Haemophilus influenzae xâm nhập vào màng phổi. Các triệu chứng bao gồm đau ngực sắc tốt hơn khi thở sâu hoặc ho, sốt, nhức đầu và mệt mỏi. Đau ngực thường kéo dài trong vòng vài ngày.

2. Viêm màng gan: Bệnh viêm màng gan có thể do nhiễm trùng vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng. Các triệu chứng bao gồm đau vùng bên phải trong bụng, sưng và đau gan, mệt mỏi, buồn nôn và nôn mửa, và mất cảm giác đồng tử.

3. Viêm màng dạ dày: Đây là một tình trạng viêm nhiễm của màng bao quanh dạ dày. Nguyên nhân thường là vi khuẩn như Helicobacter pylori hoặc vi khuẩn streptococcus. Các triệu chứng bao gồm đau bụng, đầy hơi sau khi ăn, buồn nôn và nôn trớ, khó tiêu, và cảm giác no không kéo dài.

4. Viêm màng tuỷ sống: Đây là một trạng thái viêm nhiễm của màng bao quanh tuỷ sống. Có thể xuất hiện do nhiễm trùng vi khuẩn, virut hoặc nấm. Các triệu chứng của bệnh này bao gồm đau lưng cấp tính hoặc mạn tính, cứng cổ, sốt cao, và một lượng ít hoặc không có linh hồn tiết.

5. Viêm màng não: Đây là một trạng thái viêm nhiễm của màng bao quanh não và tủy sống, gây ra bởi vi khuẩn, virut, nấm và các tác nhân gây viêm khác. Các triệu chứng bao gồm đau đầu mạn tính nặng, sốt cao, nhức đầu nghiêm trọng, cảm giác buồn nôn, nôn mửa, căng cứng cơ cổ và co giật.

Điều trị cho bệnh màng trong thường bao gồm sử dụng kháng sinh, thuốc chống viêm, thuốc giảm đau và hỗ trợ theo chỉ định của bác sĩ. Điều quan trọng là tham khảo ý kiến ​​chuyên gia y tế để được chẩn đoán chính xác và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

Sinh lý bệnh và vai trò của Surfactant phế nang

Surfactant là một phức hợp phospholipid-protein (chiếm 80% là dipalmitoylphosphatidylcholine - DPPC và các apoprotein SP-A, SP-B, SP-C, SP-D) do tế bào phế nang týp II (pneumocyte type II) tổng hợp từ tuần thứ 24 của thai kỳ và đạt mức độ trưởng thành sau tuần thứ 34–35. Surfactant có chức năng sinh lý sống còn là làm giảm sức căng bề mặt tại mặt tiếp xúc khí - dịch phế nang theo định luật Laplace (P=2γ/rP = 2\gamma / r), ngăn ngừa hiện tượng xẹp các phế nang kích thước nhỏ ở cuối thì thở ra. Khi thiếu surfactant, phổi bị xẹp lan tỏa gây mất cân xứng thông khí/tưới máu (V/Q mismatch), hạ oxy máu nặng và toan hóa máu, làm tổn thương nội mô mao mạch phế nang thoát dịch giàu fibrin tạo thành màng hyaline đặc trưng.

Chiến lược điều trị: Surfactant ngoại sinh và CPAP sớm

Điều trị dự phòng trước sinh bằng liệu pháp corticosteroid (betamethasone hoặc dexamethasone) cho các sản phụ có nguy cơ sinh non từ tuần 24 đến 34 giúp thúc đẩy sự trưởng thành tế bào phế nang týp II. Sau sinh, phác đồ hiện đại ưu tiên hỗ trợ hô hấp không xâm lấn sớm bằng CPAP (thở áp lực dương liên tục qua mũi) kết hợp bơm surfactant ngoại sinh qua kỹ thuật xâm lấn tối thiểu LISA/MIST (Less Invasive Surfactant Administration), giúp giảm tỷ lệ phải đặt nội khí quản và giảm biến chứng loạn sản phế quản phổi (BPD).

Câu hỏi thường gặp

Tại sao trẻ sinh non có tuổi thai càng nhỏ thì nguy cơ mắc bệnh màng trong càng cao?

Vì tế bào phế nang týp II chỉ bắt đầu sản xuất surfactant từ tuần thai thứ 24 và đến sau tuần thai thứ 34 mới đạt hoàn chỉnh; trẻ sinh càng non thì lượng surfactant tích lũy càng thiếu hụt nghiêm trọng.

Kỹ thuật LISA / MIST trong bơm surfactant ngoại sinh có ưu điểm gì so với phương pháp kinh điển qua ống nội khí quản?

LISA/MIST sử dụng ống thông siêu nhỏ đưa vào khí quản trong khi trẻ vẫn tự thở tự nhiên dưới sự hỗ trợ của CPAP, không cần đặt nội khí quản hay thở máy xâm lấn, giảm thiểu tổn thương phổi.

Hình ảnh X-quang phổi đặc trưng của bệnh màng trong gồm những dấu hiệu gì?

Hình ảnh kinh điển gồm giảm thể tích phổi, hình mờ dạng lưới hạt lan tỏa hai phế trường và dấu hiệu hình cây phế quản khí, trường hợp nặng có hình phổi trắng xóa.

Tài liệu tham khảo

  1. Jacob (2009). HYALINE MEMBRANE DISEASE / RESPIRATORY DISTRESS SYNDROME. Manual of Midwifery. doi:10.5005/jp/books/10473_52 DOI: 10.5005/jp/books/10473_52
  2. Whitsett (2014). Respiratory Distress Syndrome-Hyaline Membrane Disease☆. Reference Module in Biomedical Sciences. doi:10.1016/b978-0-12-801238-3.05276-4 DOI: 10.1016/b978-0-12-801238-3.05276-4
  3. Kumar (2021). USE OF EARLY NASAL CONTINUOUS POSITIVE AIRWAY PRESSURE IN TREATMENT OF PRETERM NEONATES WITH HYALINE MEMBRANE DISEASE (NEONATAL RESPIRATORY DISTRESS SYNDROME). INTERNATIONAL JOURNAL OF SCIENTIFIC RESEARCH. doi:10.36106/ijsr/2123779 DOI: 10.36106/ijsr/2123779