Vẹo cột sống (scoliosis) là biến dạng cấu trúc ba chiều phức tạp của cột sống, đặc trưng bởi sự lệch vẹo sang một bên trên mặt phẳng trán với góc Cobb từ 10 độ trở lên trên phim chụp X-quang đứng, kèm theo sự xoay trục của thân đốt sống và biến dạng đường cong sinh lý trên mặt phẳng đứng dọc. Biến dạng này không chỉ ảnh hưởng đến tư thế thẩm mỹ mà còn có thể gây đau mạn tính, suy giảm chức năng hô hấp và chèn ép thần kinh khi tiến triển nặng.
Vẹo cột sống có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là trong giai đoạn dậy thì bứt phá tăng trưởng chiều cao ở trẻ vị thành niên. Việc phát hiện sớm và can thiệp bảo tồn kịp thời đóng vai trò quyết định giúp ngăn ngừa nhu cầu phẫu thuật chỉnh hình phức tạp trong tương lai.
Phân loại nguyên nhân bệnh học
Dựa trên căn nguyên bệnh sinh, vẹo cột sống được phân loại thành bốn nhóm lớn:
- Vẹo cột sống vô căn (Idiopathic Scoliosis): Chiếm khoảng 80–85% tổng số ca bệnh. Nhóm này không có nguyên nhân bệnh lý nền rõ ràng, liên quan mật thiết đến yếu tố đa gen di truyền và sự phát triển bất đối xứng của hệ thần kinh - cơ xương. Được phân chia theo độ tuổi khởi phát thành: thể trẻ nhỏ (infantile, dưới 3 tuổi), thể thiếu nhi (juvenile, từ 4–9 tuổi), và thể thanh thiếu niên (adolescent idiopathic scoliosis - AIS, từ 10–18 tuổi, phổ biến nhất) (Weinstein và cs., 2008).
- Vẹo cột sống bẩm sinh (Congenital Scoliosis): Xuất phát từ các dị tật bẩm sinh trong quá trình hình thành hoặc phân đoạn đốt sống thời kỳ phôi thai (như đốt sống nửa thân - hemivertebra, cầu xương dính đốt sống).
- Vẹo cột sống thần kinh - cơ (Neuromuscular Scoliosis): Phát triển thứ phát do sự mất cân bằng lực cơ và suy giảm kiểm soát thần kinh trong các bệnh lý bại não (cerebral palsy), teo cơ tủy sống (SMA), loạn dưỡng cơ Duchenne hoặc chấn thương tủy sống.
- Vẹo cột sống thoái hóa ở người trưởng thành (Degenerative / Adult De Novo Scoliosis): Hình thành do thoái hóa bất đối xứng đĩa đệm và khớp liên mấu ở người cao tuổi kết hợp với loãng xương.
Chẩn đoán lâm sàng và đánh giá X-quang
1. Thăm khám lâm sàng và nghiệm pháp gập lưng Adam (Adam's Forward Bend Test)
Bệnh nhân đứng thẳng cúi gập người về phía trước, hai tay buông thõng tự do. Người khám quan sát từ phía sau để phát hiện bướu gồ sườn (rib hump) ở đoạn ngực hoặc bướu gồ thắt lưng do sự xoay trục của đốt sống kéo theo khung xương sườn xoay theo. Góc nghiêng thân mình (Angle of Trunk Rotation - ATR) được đo bằng thước đo vẹo cột sống Scoliometer; giá trị ATR từ 5–7 độ trở lên là chỉ định bắt buộc chụp X-quang khảo sát.
2. Phương pháp đo góc Cobb trên X-quang
Góc Cobb (Cobb angle) là tiêu chuẩn vàng định lượng độ cong vẹo trên phim chụp X-quang toàn bộ cột sống thẳng đứng (Full-spine standing AP view). Bác sĩ xác định đốt sống nghiêng nhiều nhất ở phía trên (đốt sống giới hạn trên) và đốt sống nghiêng nhiều nhất ở phía dưới (đốt sống giới hạn dưới) của đường cong. Góc hợp bởi đường thẳng kéo dài từ bờ trên thân đốt sống giới hạn trên và bờ dưới thân đốt sống giới hạn dưới chính là góc Cobb.
| Mức độ góc Cobb | Phân loại mức độ vẹo | Chiến lược can thiệp lâm sàng tiêu chuẩn |
|---|---|---|
| 10° – 19° | Vẹo mức độ nhẹ | Theo dõi định kỳ mỗi 6 tháng kèm tập vật lý trị liệu đặc hiệu PSSE |
| 20° – 39° | Vẹo mức độ trung bình | Chỉ định nẹp chỉnh hình cột sống kết hợp bài tập PSSE nếu xương còn phát triển |
| 40° – 49° | Vẹo mức độ nặng vừa | Cân nhắc nẹp tích cực hoặc đánh giá chỉ định phẫu thuật nẹp vít chỉnh vẹo |
| ≥ 50° | Vẹo mức độ nặng | Chỉ định phẫu thuật chỉnh vẹo và hàn xương liên đốt sống cố định |
3. Đánh giá độ trưởng thành xương qua dấu hiệu Risser
Dấu hiệu Risser (Risser sign) đánh giá mức độ cốt hóa của sụn viền mào chậu trên X-quang chậu hông, chia làm 6 giai đoạn (Risser 0 đến Risser 5). Risser 0 biểu thị sụn chưa cốt hóa (giai đoạn tăng trưởng chiều cao bùng nổ, nguy cơ tiến triển góc vẹo cao nhất); Risser 5 biểu thị xương đã cốt hóa hoàn toàn và ngừng tăng trưởng chiều cao.
Các phương pháp điều trị và phục hồi chức năng
1. Bài tập vật lý trị liệu đặc hiệu cho vẹo cột sống (PSSE)
Theo Hướng dẫn SOSORT (Negrini và cs., 2018), các phương pháp tập luyện đặc hiệu như Phương pháp Schroth, SEAS tập trung vào việc tự điều chỉnh tư thế ba chiều chủ động (auto-correction), tái định hướng không gian lồng ngực qua các bài tập hít thở xoay (rotational angular breathing) và tăng cường sức mạnh nhóm cơ lõi giữ cột sống vững chắc.
2. Áo nẹp chỉnh hình cột sống (Spinal Bracing)
Nẹp chỉnh hình (như Nẹp Boston, Nẹp Chêneau, Nẹp Rigo-Chêneau) tác động lực cơ học đa điểm ba chiều giúp nắn chỉnh đường cong và kìm hãm sự xoay đốt sống trong suốt giai đoạn trẻ tăng trưởng xương. Thử nghiệm ngẫu nhiên BRAIST (Weinstein và cs., 2013) trên tạp chí NEJM khẳng định đeo nẹp đủ thời gian (13–18 giờ/ngày) giúp giảm 72% tỷ lệ tiến triển đường cong đến mức phải phẫu thuật so với nhóm không đeo nẹp.
3. Phẫu thuật chỉnh hình nẹp vít hàn xương (Spinal Fusion)
Khi góc Cobb vượt quá 45–50 độ ở bệnh nhân chưa trưởng thành xương hoặc trên 50–55 độ ở người trưởng thành, phẫu thuật được chỉ định nhằm ngăn ngừa biến chứng suy hô hấp hạn chế và thoái hóa cột sống đau đớn. Phẫu thuật viên sử dụng hệ thống thanh nẹp titan và ốc vít chân cung (pedicle screws) để nắn chỉnh độ xoay, đưa cột sống về trục cân bằng sagittal-coronal và ghép xương tự thân/đồng loại để hàn cứng vĩnh viễn các phân đoạn đốt sống bị vẹo.