Tiêu huyết khối là gì? Các công bố khoa học về Tiêu huyết khối

Tiêu huyết khối là một quy trình y khoa nhằm loại bỏ cục máu đông gây tắc nghẽn mạch máu, ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng như nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Phương pháp hoạt động bằng cách sử dụng thuốc tiêu sợi huyết như streptokinase và tPA, kích hoạt plasminogen thành plasmin để phân giải fibrin. Mặc dù có nhiều lợi ích, tiêu huyết khối cũng tiềm ẩn rủi ro như chảy máu và dị ứng thuốc. Do đó, cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích và nguy cơ, dưới sự giám sát của chuyên gia y tế.

Tiêu Huyết Khối: Tổng Quan và Vai Trò Trong Y Học

Tiêu huyết khối là một quy trình y khoa được áp dụng để loại bỏ hoặc làm tan cục máu đông trong mạch máu. Các cục máu đông này thường gây cản trở lưu thông máu, dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim và tắc mạch phổi. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chi tiết về tiêu huyết khối, từ phương thức hoạt động cho đến các ứng dụng lâm sàng.

Cơ Chế Hoạt Động Của Tiêu Huyết Khối

Tiêu huyết khối thường được thực hiện bằng cách sử dụng các thuốc tan cục máu đông. Những loại thuốc này, được gọi là thuốc tiêu sợi huyết, hoạt động bằng cách kích hoạt plasminogen, một protein hiện diện trong máu, để chuyển hóa thành plasmin - một enzyme có khả năng phân giải fibrin, cấu trúc chính của cục máu đông.

Một số thuốc tiêu sợi huyết phổ biến bao gồm streptokinase, urokinase và tissue plasminogen activator (tPA). Những thuốc này có thể được dùng qua đường tĩnh mạch và nhanh chóng phát huy tác dụng trong vòng vài giờ sau khi được tiêm.

Ứng Dụng Lâm Sàng

Tiêu huyết khối có nhiều ứng dụng quan trọng trong y học. Đặc biệt, nó được sử dụng để điều trị:

  • Nhồi Máu Cơ Tim: Tiêu huyết khối sớm có thể giúp tái thông dòng máu qua động mạch vành, giảm thiểu tổn thương cơ tim và cải thiện cơ hội sống sót.
  • Đột Quỵ Do Thiếu Máu Cục Bộ: Đối với những bệnh nhân có đột quỵ do tắc nghẽn động mạch não, việc sử dụng tiêu huyết khối trong vòng vài giờ đầu tiên sau khi xuất hiện triệu chứng có thể giảm đáng kể nguy cơ tàn phế dài hạn.
  • Tắc Mạch Phổi: Trong các trường hợp tắc mạch phổi đe dọa tính mạng, tiêu huyết khối có thể giúp loại bỏ cục máu đông và cải thiện chức năng hô hấp.

Nguy Cơ Và Tác Dụng Phụ

Mặc dù tiêu huyết khối mang lại nhiều lợi ích quan trọng, quá trình này cũng đi kèm với những nguy cơ đáng kể. Các tác dụng phụ phổ biến nhất bao gồm:

  • Chảy máu nghiêm trọng, bao gồm chảy máu nội sọ hoặc xuất huyết tiêu hóa.
  • Phản ứng dị ứng hoặc sốc phản vệ đối với thuốc tiêu sợi huyết.

Việc sử dụng tiêu huyết khối thường cần được cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích và nguy cơ, và bệnh nhân cần được giám sát chặt chẽ trong quá trình điều trị.

Kết Luận

Tiêu huyết khối là một phương pháp điều trị quan trọng trong việc đối phó với các tình trạng khẩn cấp về huyết học. Với sự phát triển không ngừng của công nghệ y học, các phương pháp tiêu huyết khối ngày càng được cải tiến để tăng hiệu quả và giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, điều cốt yếu vẫn là chẩn đoán kịp thời và sử dụng thuốc phù hợp dưới sự giám sát của chuyên gia y tế.

Danh sách công bố khoa học về chủ đề "tiêu huyết khối":

Hồ sơ xét nghiệm nguy cơ cao của kháng thể kháng phospholipid và huyết khối liên quan đến số lượng lớn các biểu hiện ngoài tiêu chí trong hội chứng kháng phospholipid thai sản Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - Tập 67 - Trang 478-485 - 2019
Các biểu hiện ngoài tiêu chí như giảm tiểu cầu và livedo được mô tả liên quan đến hội chứng kháng phospholipid (APS) nhưng không được đưa vào các tiêu chí phân loại hiện tại. Biểu hiện lâm sàng của chúng có thể quan trọng, vì chúng có thể liên quan đến một hồ sơ nguy cơ cao của kháng thể kháng phospholipid (aPL) và huyết khối. Chúng tôi đã đánh giá mối liên quan giữa sự hiện diện của các biểu hiện ngoài tiêu chí trong APS thai sản nguyên phát (POAPS) và các hồ sơ aPL. Chúng tôi cũng đánh giá xem sự hiện diện của các biểu hiện ngoài tiêu chí ở bệnh nhân POAPS có làm tăng nguy cơ phát triển huyết khối trong thời gian theo dõi (thời gian theo dõi trung bình 5 năm; dao động từ 3–9 năm) hay không. Chúng tôi đã chọn 79 phụ nữ chỉ được đưa vào nghiên cứu của chúng tôi nếu họ được chẩn đoán lần đầu với POAPS (không có tiền sử huyết khối trước đó) và được đánh giá lại về sự hiện diện của huyết khối sau thời gian theo dõi. Chúng tôi đã đánh giá mối liên quan giữa hồ sơ aPL và các biểu hiện ngoài tiêu chí. Chúng tôi cũng đã đánh giá mối quan hệ của huyết khối trong thời gian theo dõi với các biểu hiện ngoài tiêu chí và các yếu tố nguy cơ khác. Bệnh nhân có ba hoặc nhiều hơn các biểu hiện ngoài tiêu chí cho thấy tỷ lệ dương tính ba lần cao với hồ sơ aPL (75%) (p < 0.001). Chúng tôi cũng phát hiện mối quan hệ giữa việc hiện diện của các biểu hiện ngoài tiêu chí và việc có titers cao của aPL: 91.7% bệnh nhân có ba hoặc nhiều hơn các biểu hiện ngoài tiêu chí có titers cao của aPL (p < 0.01). Chúng tôi đã đánh giá thêm nhóm bệnh nhân POAPS theo các sự kiện huyết khối trong thời gian theo dõi. Trong số những bệnh nhân này, 6 (7.6%) có huyết khối. Đáng chú ý, 100% bệnh nhân có sự kiện huyết khối trong thời gian theo dõi có hơn ba biểu hiện ngoài tiêu chí. Bệnh nhân POAPS có các biểu hiện ngoài tiêu chí có thể có hồ sơ aPL nguy cơ cao và nguy cơ lớn phát triển huyết khối.
#hội chứng kháng phospholipid #kháng thể kháng phospholipid #huyết khối #biểu hiện ngoài tiêu chí #phụ khoa
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỜI GIAN CỬA – KIM Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO CẤP ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TIÊU HUYẾT KHỐI
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 498 Số 1 - 2021
Nghiên cứu nhằm mô tả một số yếu tố liên quan đến thời gian cửa – kim (DTN), là thời gian từ khi bệnh nhân nhập viện đến khi bệnh nhân được dùng thuốc tiêu huyết khối ở các bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp. Đây là phương pháp hồi cứu mô tả tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Bạch Mai trên 124 bệnh nhân đã được chẩn đoán nhồi máu não cấp và được điều trị tiêu huyết khối. Kết quả cho thấy có phim chụp sọ não trước khi đến viện, liên hệ trước với bệnh viện, vào viện trong giờ hành chính và thời gian nhập viện – thăm khám (DTE) ngắn là các yếu tố độc lập liên quan đến thời gian cửa - kim < 60 phút. Từ các kết quả này có thể giúp cải thiện quy trình và làm giảm được thời gian cửa - kim, từ đó nâng cao chất lượng điều trị bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp.
#Thời gian cửa – kim #đột quỵ nhồi máu não #nhồi máu não cấp #tiêu huyết khối.
NGHIÊN CỨU CÁC DIỄN BIẾN BẤT LỢI Ở BỆNH NHÂN TẮC ĐỘNG MẠCH NÃO ĐƯỢC LẤY HUYẾT KHỐI CƠ HỌC CÓ ĐIỀU TRỊ BẮC CẦU
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 500 Số 1 - 2021
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu các biến chứng do tái thông mạch mạch máu não bằng tiêu sợi huyết kết hợp lấy huyết khối cơ học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não mạch lớn trước 270 phút, có chỉ định đồng thời tiêu sợi huyết liều 0.9mg/kg và lấy huyết khối cơ học. Đánh giá các diễn biến bất lợi, đặc biệt chảy máu não sau tái tưới máu. Kết quả: Với 35 bệnh nhân thu được, tỷ lệ tái thông mạch tốt (TICI 2b-c) là 94%, hồi phục tốt thời điểm 90 ngày là  62,9% (mRS 0-2). Tỷ lệ xuất huyết chuyển dạng là 37,1% trong đó chủ yếu là xuất huyết chuyển dạng không triệu chứng 10/13 bệnh nhân xuất huyết (76,9%). Ngoài ra có thể gặp một số diễn biến bất lợi khác như viêm phổi (5,8%), suy thận (5,85), suy giảm thần kinh sớm (8,6%). Kết luận: Xuất huyết chuyển dạng là biến chứng hay gặp sau điều trị tiêu sợi huyết kết hợp lấy huyết khối động mạch (37,1%)  nhưng kỹ thuật này vẫn là phương pháp hiệu quả trong điều trị đột quỵ não tắc mạch lớn.
#Đột quỵ não #tiêu sợi huyết #lấy huyết khối cơ học #xuất huyết chuyển dạng
ĐIỀU TRỊ TIÊU HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP KHÔNG XÁC ĐỊNH CHÍNH XÁC THỜI ĐIỂM KHỞI PHÁT DỰA VÀO MISMATCH DWI – FLAIR TRÊN MRI SỌ NÃO
Tạp chí Y học Việt Nam - Tập 505 Số 2 - 2021
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và kết quả điều trị tái tưới máu bằng thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp không xác định chính xác thời điểm khởi phát dựa vào hình ảnh không phù hợp DWI – FLAIR trên phim chụp MRI sọ não. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca bệnh, theo dõi kết cục lâm sàng tới 90 ngày sau khởi phát. Đối tượng là các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, đột quỵ nhồi máu não cấp không xác định chính xác thời điểm khởi phát được điều trị bằng thuốc tiêu huyết khối alteplase đường tĩnh mạch tại Bệnh viện Bạch Mai, đáp ứng yêu cầu khoảng thời gian từ thời điểm cuối cùng bình thường tới khi được tiêu huyết khối trên 4,5 giờ, và khoảng thời gian từ khi được phát hiện đột quỵ tới tiêu huyết khối là dưới 4,5 giờ, có hình ảnh không tương xứng DWI – FLAIR trên phim chụp MRI sọ não, loại trừ những bệnh nhân được chỉ định lấy huyết khối cơ học. Kết quả: Từ tháng 5/2019 tới tháng 5/2021 có 40 bệnh nhân đáp ứng đủ điều kiện nghiên cứu. 72.5% là nam, tuổi trung bình 67.05 tuổi, 75% được phát hiện đột quỵ khi thức giấc. Thời gian trung bình từ lần cuối còn bình thường tới khi được dùng thuốc tiêu huyết khối là 7.75 giờ. Thời gian trung bình từ khi phát hiện đột quỵ tới khi được dùng thuốc tiêu huyết khối là 3,1 giờ. Điểm NIHSS lúc nhập viện có giá trị trung vị là 6 điểm, điểm NIHSS sau tiêu huyết khối 24h có gía trị trung vị là 3 điểm. Kết cục lâm sàng sau 90 ngày là 57.5% bệnh nhân hồi phục tốt (mRS 0-1), 1 bệnh nhân tử vong (2,5%), và 4 bệnh nhân cần chăm sóc tại giường (mRS 4-5) chiếm 10%. Tỉ lệ xuất huyết nội sọ có triệu chứng là 5%. Kết luận: Điều trị tiêu huyết khối bằng alteplase tĩnh mạch ở những bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp  với thời gian khởi phát không xác định dưới hướng dẫn bởi không phù hợp DWI – FLAIR trên MRI sọ não cho kết quả tích cực.
#Đột quỵ não thức giấc #Nhồi máu não không rõ thời gian khởi phát #không phù hợp DWI – FLAIR
CON NGƯỜI LÃNG QUÊN VÀ HÀNH TRÌNH TRUY TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT TRONG TIỂU THUYẾT ĐỂ EM KHỎI LẠC TRONG KHU PHỐ CỦA PATRICK MODIANO
Là một trong những nhà văn Pháp sáng giá của thế kỉ XX, Patrick Modiano được mệnh danh là cây bút của nghệ thuật kí ức. Toàn bộ văn nghiệp của ông là hành trình khắc khoải tìm lại quá khứ và kí ức nay đã nhòe nét, đã mất, những mong kiếm tìm câu trả lời “Tôi là ai?”. Bài viết tập trung xem xét hình ảnh con người lãng quên kí ức và hành trình mơ hồ, hư vô đi tìm thời gian đã mất trong tiểu thuyết Để em khỏi lạc trong khu phố, ở khía cạnh cơ bản: con người bị mất đi “thời gian tính”, lạc giữa hiện thực mờ nhòe và tính vô nghĩa của việc tìm về một thời xa vắng. Qua đó nhằm làm rõ hành trình tìm lại thời gian đã mất của nhân vật chính Jean Daragane, hay của chính chúng ta, là con đường dài vô định, quẩn quanh, vô nghĩa.
#Patrick Modiano; So You Don’t Get Lost in the Neighborhood; lost memories; Zeitlichkeit; the person who lost memories; personal identity.
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MÔ HÌNH CAN THIỆP LÀM TĂNG CƠ HỘI CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC TIÊU HUYẾT KHỐI TRÊN NGƯỜI BỆNH NHỒI MÁU NÃO CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHỐ NỐI
Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam - Tập 1 Số 45 - Trang 88-95 - 2024
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ người bệnh đến sớm, được tiêu huyết khối và kết quả điều trị nhồi máu não so với giai đoạn 2018 - 2020.Đối tượng và phương pháp: 318 bệnh nhân được chẩn đoán nhồi máu não cấp theo tiêu chuẩn của WHO. tuổi từ 18 trở lên; nhập bệnh viện đa khoa Phố Nối từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022. Nghiên cứu quan sát mô tả.Kết quả: Nghiên cứu thu tuyển được 318 ca nhồi máu não, tỷ lệ người bệnh nhập viện sớm hơn ở tất cả các cửa sổ, trong đó, tỷ lệ nhập viện trong cửa sổ 4,5 giờ đầu (chiếm 29,6%) cao hơn so với giai đoạn trước đó (19,6%). Thời gian cửa-kim (Thời gian từ lúc người bệnh nhập cấp cứu đến khi được tiêm thuốc) trung bình ở giai đoạn sau can thiệp là 43,8 phút thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với giai đoạn trước can thiệp là 51,4 phút. Tỷ lệ người bệnh nhồi máu não cấp được tiêu huyết khối đạt kết quả điều trị tốt, mRS 0-2 là 31,3%, không khác biệt so với giai đoạn trước can thiệp.Kết luận: Sau 1,5 năm áp dụng mô hình can thiệp đa phương thức trong quản lý người bệnh đột quỵ não giúp làm tăng tỷ lệ người bệnh đến nhập viện sớm trong tất cả các cửa sổ thời gian, đặc biệt cửa sổ 4,5 giờ; giúp rút ngắn thời gian cửa-kim, nhưng chưa thấy cải thiện kết quả điều trị.
#Nhồi máu não cấp #tiêu huyết khối #kết quả điều trị
Tầm Nhìn Mở Rộng Về Chức Năng Của Tiểu Cầu Và Các Tác Động Lâm Sàng Của Nó Dịch bởi AI
Journal of Cardiovascular Translational Research - Tập 3 - Trang 538-546 - 2010
Tiểu cầu là các tế bào trung gian chính của hiện tượng huyết khối. Sự thiếu hụt tiểu cầu có thể dẫn đến các rối loạn chảy máu nghiêm trọng. Các tiểu cầu "hoạt động quá mức" góp phần vào các hậu quả đe dọa tính mạng trong các bệnh như nhồi máu cơ tim, đột quỵ và ung thư. Việc sử dụng các chất ức chế tiểu cầu để ngăn ngừa huyết khối do đó phải tìm kiếm sự cân bằng tinh tế giữa việc ức chế sự kích hoạt tiểu cầu và sự gia tăng nguy cơ chảy máu đi kèm. Hiện tại, chỉ có một số ít chất ức chế tiểu cầu có sẵn trong lâm sàng, làm cho việc tìm kiếm các mục tiêu thuốc chống tiểu cầu mới trở thành ưu tiên nghiên cứu hàng đầu. Một số con đường kích hoạt tiểu cầu mới được xác định có thể mang lại hy vọng trong lĩnh vực này. Thêm vào đó, vai trò quan trọng của tiểu cầu ngoài sự cầm máu đã được phát hiện. Gần đây, tiểu cầu đã được mô tả như những chất trung gian của nhiều bệnh viêm khác nhau như viêm khớp, viêm gan, sốt rét và xơ vữa động mạch. Điều này đã làm tăng nhu cầu mở rộng hiểu biết của chúng ta về chức năng của tiểu cầu và các chất trung gian viêm xuất phát từ tiểu cầu. Nó cũng làm tăng sự quan tâm đến việc tiếp tục tìm kiếm các chất ức chế tiểu cầu mới và tạo ra những cơ hội mới cho việc sử dụng các chất ức chế tiểu cầu trong một loạt các chiến lược điều trị bệnh.
#tiểu cầu #huyết khối #ức chế tiểu cầu #bệnh viêm #rối loạn chảy máu #nghiên cứu lâm sàng #bệnh tim mạch #ung thư #xơ vữa động mạch
Chế Độ Chống Tiểu Cầu Kép So Với Axit Acetylacetic Trong Can Thiệp Động Mạch Cảnh Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - Tập 29 - Trang 519-521 - 2006
Đặt stent động mạch cảnh đã được đề xuất như một phương pháp điều trị cho hẹp động mạch cảnh. Mục tiêu của nghiên cứu này tại một cơ sở điều trị là so sánh liệu pháp chống tiểu cầu kép và heparin kết hợp với axit acetylacetic ở những bệnh nhân đã trải qua thủ thuật đặt stent động mạch cảnh. Chúng tôi so sánh 2 nhóm bệnh nhân, mỗi nhóm 50 người, đã thực hiện đặt stent động mạch cảnh do bệnh lý xơ vữa động mạch nguyên phát. Nhóm A nhận heparin trong 24 giờ kết hợp với 325 mg axit acetylacetic, trong khi nhóm B nhận 250 mg ticlopidine hai lần mỗi ngày kết hợp với 325 mg axit acetylacetic. Các chỉ số kết quả bao gồm tỉ lệ chảy máu và biến chứng thần kinh trong 30 ngày, cũng như tỉ lệ huyết khối/niêm mạc trong 30 ngày. Biến chứng thần kinh xảy ra ở 16% nhóm A và 2% nhóm B (p < 0,05). Biến chứng chảy máu xuất hiện ở 4% nhóm A và 2% nhóm B (p > 0,05). Tỉ lệ huyết khối/niêm mạc trong 30 ngày là 2% nhóm A và 0% nhóm B (p > 0,05). Đề nghị sử dụng liệu pháp chống tiểu cầu kép cho tất cả bệnh nhân thực hiện đặt stent động mạch cảnh.
#đặt stent động mạch cảnh #liệu pháp chống tiểu cầu kép #heparin #axit acetylacetic #huyết khối #biến chứng thần kinh
CHỐI BỎ HỆ GIÁ TRỊ VÀ Ý HƯỚNG TÍNH LẬP THÀNH SỰ HIỆN HỮU THẾ TÍNH TRONG TIỂU THUYẾT “MÙ KHƠI” CỦA THANH TÂM TUYỀN
    Bài viết khởi nguồn từ việc xác lập Thanh Tâm Tuyền với tư cách một tiểu thuyết gia. Bắt đầu bằng những trăn trở và truy vấn dai dẳng/ám ảnh của nhà văn đối với hiện hữu, chúng tôi bước vào tiểu thuyết Mù khơi để truy tìm con người chối bỏ hệ giá trị thuộc về bản thể nhân tính. Theo đó, chúng tôi phân tích và cho thấy sự ảnh hưởng của những ý hướng ấy trong việc cấu thành văn bản. Đối với vấn đề này, chúng tôi sử dụng lối trực quan bản chất và kĩ thuật biến thể để nghiên cứu nội giới văn bản. Thêm vào đó, bài viết cũng hướng đến việc đánh giá và ghi nhận những đóng góp của Thanh Tâm Tuyền đối với văn xuôi đô thị miền Nam Việt Nam 1954-1975. Những luận điểm này là tiền đề cho việc gợi mở về sự dịch chuyển, ở trường hợp Thanh Tâm Tuyền, từ tinh thần hiện đại sang khuynh hướng hậu hiện đại. Bài viết còn góp phần cho thấy vị trí của Thanh Tâm Tuyền trong bối cảnh văn học đô thị miền Nam 1954-1975 nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung.  
#kĩ thuật biến thể #Thanh Tâm Tuyền #truy vấn #trực quan bản chất #ý hướng tính
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, XÉT NGHIỆM BỆNH NHÂN NGHI NGỜ GIẢM TIỂU CẦU HUYẾT KHỐI SAU TIÊM VACXIN PHÒNG COVID 19 TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Mục tiêu:  Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm của bệnh nhân tiêm vacxin phòng Covid 19 có biểu hiện lâm sàng nghi ngờ VITT (VACCINE – INDUCED THROMBOTIC THROMBOCYTOPENIA) tại bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 35 bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng nghi ngờ VITT tại bệnh viện Bạch Mai năm 2021. Kết quả nghiên cứu: Tuổi trung bình 42,63 ± 17,21 tuổi, nữ giới chiếm 63%. Tỷ lệ bệnh nhân tiêm vacxin loại adenovirus là 85,7%; thời gian trung bình từ lúc tiêm vacxin đến khi xuất hiện triệu chứng là 8,38 ± 6,68 ngày. Các triệu chứng lâm sàng chủ yếu là đau đầu (37%), xuất huyết tạng (22,9%), huyết khối (42,9%) trong đó gặp nhiều nhất là huyết khối xoang tĩnh mạch não (60%). Đặc điểm xét nghiệm: 14,3% bệnh nhân có xét nghiệm HPIA (Heparin PF4 induced antibodies) dương tính; 57% có giảm tiểu cầu; nồng độ Ddimer trung bình là 12,29 ± 37,12 mg/l. Tuổi, nồng độ Ddimer trung bình, tỷ lệ huyết khối, vị trí huyết khối của bệnh nhân có xét nghiệm HPIA âm tính và dương tính có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết luận: VITT là một biến chứng nặng sau tiêm vacxin loại adenovirus phòng covid 19. Nhận biết các triệu chứng điển hình của VITT giúp các bác sĩ chẩn đoán và điều trị kịp thời cho người bệnh.
#Vacxin covid 19 #xét nghiệm HPIA #VITT
Tổng số: 24   
  • 1
  • 2
  • 3