Từ điển học thuật

Stress oxy hóa là gì? Các công bố khoa học về Stress oxy hóa

Stress oxi hóa là quá trình trong đó các phân tử bị chuyển điện tử và gây phá hủy hoặc sự biến đổi cấu trúc, tính chất của chúng. Khi phân tử bị oxy hóa, nó mất...

375 lượt xem Cập nhật 6/9/2026

Stress oxi hóa là quá trình trong đó các phân tử bị chuyển điện tử và gây phá hủy hoặc sự biến đổi cấu trúc, tính chất của chúng. Khi phân tử bị oxy hóa, nó mất một hoặc nhiều electron, trong khi phân tử khác nhận các electron này và bị khử đi. Quá trình này có thể xảy ra tự nhiên hoặc được gây ra bởi các yếu tố như ánh sáng mặt trời, áp suất cao, nhiệt độ cao, hoạt động vật lý cường độ cao hay sự tác động của các chất thực phẩm hoặc chất gây ô nhiễm. Stress oxi hóa có thể gây tổn hại tới tế bào và mô của cơ thể, góp phần vào quá trình lão hóa và phát triển nhiều loại bệnh như ung thư, bệnh tim mạch và bệnh Alzheimer. Để chống lại stress oxi hóa, cơ thể cần các chất chống oxi hóa, như vitamin C, vitamin E và các enzym chống oxi hóa.
Stress oxi hóa xảy ra khi các phân tử có khả năng chuyển electron được gọi là chất oxi hóa gây ra sự oxy hóa (mất electron) của các phân tử khác được gọi là chất khử. Quá trình này thường xảy ra trong cơ thể khi phân tử oxy trong không khí tác động lên tế bào hoặc khi cơ thể tiếp xúc với các tác nhân gây ô nhiễm, xạ ion hoặc thức ăn chứa các chất oxi hóa.

Trong quá trình stress oxi hóa, phân tử oxi tự do bị lợi dụng trong quá trình oxy hóa các phân tử khác. Các phân tử oxi tự do không có electron không ghép đôi, nên chúng không ổn định và có thể gây ra sự tác động tổn hại đến tế bào bằng cách tác động vào các cấu trúc chất béo, protein và DNA. Điều này có thể dẫn đến việc hủy hoại tế bào, gây viêm nhiễm và gây ra một loạt các vấn đề sức khỏe.

Cơ thể tự nhiên có các hệ thống chống oxi hóa để đối phó với stress oxi hóa. Các chất chống oxi hóa, bao gồm vitamin C, vitamin E và các enzym chống oxi hóa như Superoxide Dismutase (SOD), Glutathione Peroxidase (GPx) và Catalase, được sản xuất để bảo vệ tế bào khỏi tổn hại gây ra bởi các chất oxi hóa.

Tuy nhiên, khi lượng các chất oxi hóa vượt quá khả năng của hệ thống chống oxi hóa, stress oxi hóa có thể xảy ra. Đây là tình trạng gắn kết với quá trình lão hóa và phát triển nhiều loại bệnh, bao gồm bệnh ung thư, bệnh tim mạch, bệnh Parkinson, bệnh Alzheimer và các bệnh tự miễn dịch.

Do đó, việc duy trì một lối sống lành mạnh, ăn uống cân bằng, tăng cường hoạt động thể chất và tiêu thụ đủ các chất chống oxi hóa có trong thực phẩm là quan trọng để giảm thiểu tác động của stress oxi hóa và bảo vệ sức khỏe.

Các nghiên cứu khoa học về “stress oxy hóa”

Công bố nổi bật trên thế giới và tại Việt Nam, kèm tóm tắt theo hướng chủ đề.

Trích dẫn nhiều nhất

  • Vai trò của Stress Oxy Hóa và Chất Chống Oxy Hóa trong Các Bệnh Gan

    Sha Li và cộng sựInternational Journal of Molecular Sciences1.470 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Bệnh lý gan mạn tính liên quan chặt chẽ đến sự mất cân bằng giữa các gốc tự do phản ứng và hệ thống phòng ngự khử độc nội sinh. Tình trạng stress oxy hóa đóng vai trò cơ chế bệnh sinh then chốt dẫn đến tổn thương ty thể và xơ hóa mô gan, làm rõ tiềm năng bảo vệ tế bào của các chất chống oxy hóa ngoại sinh. Báo cáo định hình chiến lược can thiệp sớm, dù liều lượng và độ an toàn của chất bổ sung cần kiểm chứng thêm.

  • Hoạt động chống oxy hóa và tác dụng bảo vệ của các phân đoạn peptide từ Saccharomyces cerevisiae đối với stress oxy hóa do H2O2 gây ra trong tế bào Caco-2

    Mahta Mirzaei và cộng sự2019Journal of Food Measurement and Characterization

    AI tóm tắt

    Tế bào biểu mô ruột người dòng Caco-2 được sử dụng làm mô hình thử nghiệm độc tính tế bào gây bởi hydrogen peroxide H2O2. Các phân đoạn peptide thu được từ dịch thủy phân nấm men Saccharomyces cerevisiae thể hiện khả năng giảm thiểu stress oxy hóa, giúp bảo vệ tính toàn vẹn màng tế bào và hạ nồng độ gốc tự do nội bào. Khám phá cung cấp nguồn phụ gia dinh dưỡng bảo vệ ruột, song độ ổn định của peptide qua dịch vị dạ dày cần thử nghiệm in vivo.