Sinh thiết xương là thủ thuật can thiệp y khoa nhằm thu thập một mẫu bệnh phẩm mô xương từ vị trí tổn thương để tiến hành khảo sát mô bệnh học, tế bào học hoặc vi sinh vật học dưới kính hiển vi. Thủ thuật này đóng vai trò tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán phân biệt giữa u xương nguyên phát lành tính hoặc ác tính, tổn thương xương di căn từ các cơ quan khác và các bệnh lý nhiễm trùng xương như viêm tủy xương.
Dựa trên phương thức tiếp cận giải phẫu, thủ thuật thường được chia làm 2 hình thức chính: sinh thiết qua da sử dụng kim định vị dưới hướng dẫn hình ảnh học và sinh thiết phẫu thuật mở trực tiếp.
Phân loại và phương pháp can thiệp
Việc lựa chọn kỹ thuật can thiệp phụ thuộc chặt chẽ vào kích thước, vị trí giải phẫu và độ cứng của tổn thương vỏ xương:
- Sinh thiết kim lõi qua da: sử dụng hệ thống kim cắt chuyên dụng có rãnh hoặc kim xoắn để lấy các trụ mô xương nguyên vẹn. Phương pháp này ít xâm lấn, hạn chế tổn thương phần mềm xung quanh và rút ngắn thời gian hồi phục của bệnh nhân.
- Sinh thiết mở: can thiệp phẫu thuật mở rạch da để lấy bệnh phẩm trực tiếp, thường chỉ định khi sinh thiết kim thất bại, tổn thương nằm ở vị trí nguy hiểm khó tiếp cận hoặc khi cần khối lượng mô lớn phục vụ các xét nghiệm sinh học phân tử chuyên sâu.
Vai trò của chẩn đoán hình ảnh định vị
Hướng dẫn hình ảnh học giữ vai trò quyết định mức độ chính xác và an toàn của sinh thiết xương qua da:
- Cắt lớp vi tính: phương pháp dẫn đường tiêu chuẩn phổ biến nhất nhờ độ phân giải không gian vượt trội, hiển thị rõ nét ranh giới giữa mô u, vỏ xương đặc và các cấu trúc mạch máu thần kinh kế cận.
- Chiếu tia X tăng sáng: áp dụng phù hợp cho các tổn thương cản quang ở thân xương dài hoặc các can thiệp chỉnh hình nhanh.
- Cộng hưởng từ: hỗ trợ định vị các tổn thương tủy xương không gây tiêu hủy vỏ xương rõ rệt trên phim chụp cắt lớp.
Chỉ định và nguyên tắc an toàn lâm sàng
Sinh thiết xương được chỉ định khi các phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn không thể kết luận bản chất mô học của tổn thương. Các chỉ định điển hình bao gồm nghi ngờ sarcoma xương ác tính, nghi ngờ ung thư biểu mô di căn vào khung chấn thương hoặc nhiễm khuẩn xương mạn tính kháng kháng sinh.
Đường kim sinh thiết phải được lập kế hoạch tỉ mỉ và đồng thuận với phẫu thuật viên ung bướu chỉnh hình nhằm đảm bảo toàn bộ đường rò sinh thiết có thể được phẫu thuật cắt bỏ trọn vẹn trong ca mổ triệt căn sau này, ngăn ngừa gieo rắc tế bào ung thư ra các khoang giải phẫu lân cận.