Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống của các chủ thể quản lý lên toàn bộ các yếu tố cấu thành của hoạt động khoa học và công nghệ nhằm tối ưu hóa việc tạo ra, truyền bá và ứng dụng các tri thức mới cùng các giải pháp công nghệ tiên tiến vào thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình này bao quát toàn diện các khâu từ hoạch định chiến lược, xác định danh mục nhiệm vụ, phân bổ nguồn lực tài chính và nhân lực, tổ chức tuyển chọn, theo dõi tiến độ thực hiện cho đến đánh giá nghiệm thu, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nội dung bài viết phân tích sâu sắc bản chất học thuật, các chức năng cốt lõi, khung khổ thể chế tại Việt Nam, chu trình quản lý nhiệm vụ, cơ chế tài chính khoán chi cũng như các định hướng đổi mới quản trị nghiên cứu trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bản chất và chức năng của quản lý hoạt động khoa học và công nghệ
Khái niệm và đặc trưng chuyên biệt
Hoạt động khoa học và công nghệ (science and technology activities) mang tính chất đặc thù so với các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường bởi tính mới, tính sáng tạo và độ bất định cao. Quản lý trong lĩnh vực này không đơn thuần là áp dụng các mệnh lệnh hành chính cứng nhắc mà là nghệ thuật dung hòa giữa việc kiểm soát tiến độ, sử dụng hiệu quả nguồn lực công với việc duy trì không gian tự do học thuật nhằm kích thích tối đa năng lực sáng tạo của nhà khoa học. Theo Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 năm 2013, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.
Bản chất của hoạt động quản lý thể hiện ở sự chuyển hóa từ các ý tưởng nghiên cứu sơ khai thành những sản phẩm khoa học có giá trị học thuật hoặc khả năng thương mại hóa. Do sản phẩm nghiên cứu chứa đựng hàm lượng tri thức vô hình lớn và chịu rủi ro thất bại kỹ thuật tự nhiên, công tác quản lý đòi hỏi tính linh hoạt cao, chấp nhận độ trễ thời gian và thừa nhận rủi ro khoa học có thể xảy ra trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Bốn chức năng quản lý cốt lõi
Theo Cẩm nang Frascati do OECD công bố năm 2015, hoạt động nghiên cứu và phát triển phải thỏa mãn 5 tiêu chí cốt lõi: tính mới, tính sáng tạo, tính bất định về kết quả, tính có hệ thống và khả năng chuyển giao hoặc tái tạo được. Trên nền tảng đó, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học kết hợp các chức năng quản trị cơ bản: hoạch định chiến lược, tổ chức hỗ trợ, phân bổ nguồn lực và giám sát hiệu quả nhằm kích thích đổi mới sáng tạo:
- Hoạch định chiến lược nghiên cứu: Xác định tầm nhìn, mục tiêu dài hạn, lĩnh vực nghiên cứu ưu tiên và lộ trình công nghệ phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế và xu thế học thuật toàn cầu. Hoạch định đúng giúp tập trung nguồn lực mũi nhọn, tránh tình trạng phân tán, trùng lặp đề tài.
- Tổ chức và phân bổ nguồn lực: Thiết lập cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý khoa học, quy chế hoạt động của các hội đồng chuyên môn, phân công trách nhiệm và trang bị hạ tầng phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu học thuật cho các nhóm nghiên cứu.
- Điều phối và chỉ đạo thực thi: Vận hành các quy trình tuyển chọn, thẩm định kinh phí, ký kết hợp đồng nghiên cứu, tháo gỡ khó khăn về mặt thủ tục pháp lý, hải quan đối với hóa chất, thiết bị nhập khẩu và thúc đẩy liên kết viện - trường - doanh nghiệp.
- Giám sát và đánh giá hiệu quả: Kiểm tra tiến độ định kỳ, thẩm định chất lượng các báo cáo chuyên đề, nghiệm thu sản phẩm trung gian và đánh giá tác động cuối cùng dựa trên hệ thống chỉ số định lượng và định tính chuẩn mực.
Cơ sở pháp lý và phân cấp quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ tại Việt Nam
Hệ thống thể chế và phân cấp quản lý nhà nước
Tại Việt Nam, công tác quản lý khoa học và công nghệ được thể chế hóa đồng bộ qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chặt chẽ. Theo Điều 73 Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 năm 2013, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, trong đó Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng đầu mối quản lý nhà nước trên phạm vi cả nước. Các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện trách nhiệm quản lý theo ngành, lĩnh vực và địa bàn phân cấp.
Theo Điều 25 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, nhiệm vụ khoa học và công nghệ bao gồm chương trình, đề tài, dự án, nhiệm vụ nghiên cứu theo chức năng và các hình thức khác; được phân cấp theo các cấp bao gồm cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh và cấp cơ sở. Việc phân cấp này bảo đảm sự gắn kết giữa quy mô giải quyết vấn đề với thẩm quyền phê duyệt và nguồn ngân sách bảo đảm tương ứng.
Tiêu chí xác định nhiệm vụ theo các cấp quản lý
Nghị định số 08/2014/NĐ-CP năm 2014 của Chính phủ đã quy định chi tiết tiêu chí xác định và thẩm quyền đối với từng cấp quản lý nhiệm vụ. Cụ thể, theo Nghị định số 08/2014/NĐ-CP năm 2014 của Chính phủ, nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia giải quyết những vấn đề khoa học và công nghệ có tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước, có ý nghĩa liên ngành hoặc liên vùng sâu rộng. Trong khi đó, nhiệm vụ cấp bộ và cấp tỉnh tập trung xử lý các rào cản kỹ thuật, mô hình chuyển giao đặc thù của từng ngành chuyên môn hoặc từng địa phương cụ thể. Nhiệm vụ cấp cơ sở giải quyết các vấn đề trực tiếp nảy sinh trong hoạt động chuyên môn của viện nghiên cứu, trường đại học hoặc doanh nghiệp.
| Cấp quản lý nhiệm vụ | Quy mô và tính chất vấn đề | Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt | Nguồn kinh phí chủ yếu |
|---|---|---|---|
| Nhiệm vụ cấp quốc gia | Vấn đề tầm cỡ quốc gia, liên ngành, liên vùng, ảnh hưởng chiến lược đến kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh | Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt danh mục và ký quyết định đặt hàng | Ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ trung ương |
| Nhiệm vụ cấp bộ / cấp tỉnh | Vấn đề phục vụ phát triển ngành, lĩnh vực chuyên môn hoặc mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương | Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh | Ngân sách sự nghiệp khoa học bộ, ngành hoặc ngân sách tỉnh |
| Nhiệm vụ cấp cơ sở | Vấn đề thực tiễn kỹ thuật, nâng cao năng lực nghiên cứu tại nội bộ cơ quan, viện trường hoặc doanh nghiệp | Người đứng đầu tổ chức khoa học và công nghệ, hiệu trưởng trường đại học, lãnh đạo viện | Kinh phí tự chủ của tổ chức, quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp |
Chu trình quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Giai đoạn xác định và đề xuất nhiệm vụ
Chu trình quản lý một nhiệm vụ khoa học và công nghệ khởi đầu từ việc thu thập đề xuất từ các nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách. Cơ quan quản lý thành lập các hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ nhằm xem xét tính cấp thiết, tính mới, khả năng ứng dụng và tính khả thi về mặt công nghệ. Kết quả làm việc của hội đồng là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ban hành danh mục nhiệm vụ đặt hàng công khai, xác định rõ yêu cầu sản phẩm đầu ra, thời gian thực hiện dự kiến và dự toán kinh phí khung.
Giai đoạn tuyển chọn và giao trực tiếp tổ chức chủ trì
Sau khi danh mục nhiệm vụ được công bố, phương thức giao quyền chủ trì được tiến hành theo các quy định nghiêm ngặt. Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, phương thức giao quyền chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ bao gồm tuyển chọn cạnh tranh công khai và giao trực tiếp, trong đó tuyển chọn được thực hiện công khai, dân chủ thông qua Hội đồng tư vấn tuyển chọn. Phương thức tuyển chọn áp dụng phổ biến cho các nhiệm vụ có nhiều tổ chức đủ điều kiện tham gia, thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh về mặt học thuật và năng lực kỹ thuật. Phương thức giao trực tiếp chỉ áp dụng cho các trường hợp đặc biệt như bí mật quốc gia, an ninh quốc phòng cấp bách hoặc khi chỉ có một tổ chức duy nhất có đủ năng lực chuyên môn và cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nghiên cứu.
Giai đoạn triển khai, giám sát tiến độ và kiểm tra tài chính
Tổ chức chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ sau khi trúng tuyển sẽ tiến hành hoàn thiện thuyết minh chi tiết và ký kết hợp đồng nghiên cứu với cơ quan quản lý nhà nước. Trong quá trình triển khai, cơ quan quản lý tiến hành các đợt kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất về tiến độ thực hiện nội dung nghiên cứu, tình hình sử dụng kinh phí và kiểm tra thực tế tại hiện trường thí nghiệm. Chế độ báo cáo định kỳ giúp cơ quan quản lý nắm bắt kịp thời các vướng mắc, cho phép điều chỉnh nội dung nghiên cứu, gia hạn thời gian hoặc đình chỉ nhiệm vụ nếu phát hiện vi phạm quy chuẩn kỹ thuật hoặc không có triển vọng đạt kết quả cam kết.
Giai đoạn đánh giá, nghiệm thu và công nhận kết quả
Khi hoàn thành các nội dung trong hợp đồng, tổ chức chủ trì nộp hồ sơ tự đánh giá và đề nghị tổ chức nghiệm thu chính thức. Theo Điều 39 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được thực hiện thông qua Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thành lập. Hội đồng bao gồm các chuyên gia đầu ngành có uy tín, tiến hành đánh giá độc lập, khách quan về mức độ hoàn thành so với thuyết minh ban đầu, tính khoa học của báo cáo tổng hợp và giá trị ứng dụng của sản phẩm thực nghiệm. Sau khi nghiệm thu đạt yêu cầu, kết quả nghiên cứu bắt buộc phải được đăng ký và lưu giữ tại cơ quan thông tin khoa học và công nghệ quốc gia trước khi thanh lý hợp đồng và bàn giao ứng dụng.
Cơ chế tài chính và phương thức khoán chi trong nghiên cứu khoa học
Đa dạng hóa nguồn tài chính nghiên cứu
Một trong những trụ cột then chốt của quản lý khoa học hiện đại là cơ chế tài chính linh hoạt và hiệu quả. Theo OECD năm 2015 trong Cẩm nang Frascati, hoạt động nghiên cứu và phát triển bao gồm ba loại hình chính là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và phát triển thực nghiệm, mỗi loại hình đòi hỏi cơ chế cấp vốn và phương thức quản lý tài chính tương ứng. Tiếp cận quản lý hiện đại đòi hỏi đa dạng hóa nguồn tài chính bao gồm ngân sách nhà nước, tài trợ cạnh tranh dạng quỹ, hợp đồng doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ. Mô hình tài trợ đa nguồn giúp giảm bớt sự phụ thuộc tuyệt đối vào ngân sách công, đồng thời tạo áp lực tích cực buộc các nhà khoa học phải hướng nghiên cứu vào các bài toán thực tế của thị trường.
Phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng và khoán từng phần
Nhằm khắc phục tình trạng hành chính hóa các thủ tục thanh quyết toán kinh phí nghiên cứu, pháp luật Việt Nam đã có những bước đột phá mang tính bản lề. Theo Điều 52 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, phương thức khoán chi đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện theo phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc khoán từng phần. Cơ chế khoán chi trao quyền tự chủ tối đa cho chủ nhiệm đề tài trong việc quyết định định mức chi tiêu, thuê khoán chuyên môn, mua sắm vật tư tiêu hao, miễn là bàn giao đầy đủ sản phẩm đạt tiêu chuẩn đã cam kết trong hợp đồng. Điều này giúp giảm đáng kể gánh nặng hồ sơ hóa đơn chứng từ, cho phép các nhà khoa học tập trung trọn vẹn trí lực vào công tác chuyên môn.
Định hướng đổi mới quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030
Chuyển đổi phương thức quản lý theo kết quả đầu ra
Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Theo Quyết định số 569/QĐ-TTg năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ, quản lý khoa học và công nghệ đổi mới toàn diện theo hướng lấy kết quả và hiệu quả ứng dụng làm thước đo chủ yếu. Sự chuyển dịch này đòi hỏi bộ máy quản lý phải xóa bỏ hoàn toàn tư duy bao cấp hành chính, áp dụng rộng rãi các thông lệ quốc tế tốt nhất trong quản trị nghiên cứu, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý hồ sơ đề tài và xây dựng cơ sở dữ liệu mở về các nhà khoa học và công trình nghiên cứu.
Bên cạnh đó, việc phân định rõ ràng giữa các mục tiêu khám phá tri thức mới thuần túy và các mục tiêu ứng dụng thực nghiệm theo chuẩn mực thống kê Frascati của OECD năm 2015 giúp thiết lập các tiêu chí đánh giá sát thực tế. Đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học đòi hỏi sự cân bằng giữa các chỉ số định lượng công bố học thuật với tác động chuyển giao công nghệ và hợp tác doanh nghiệp, tránh lạm dụng các chỉ số công bố đơn thuần gây ra hiện tượng chạy theo số lượng mà coi nhẹ giá trị ứng dụng thực tiễn của công trình.
Các mục tiêu chiến lược và chỉ tiêu phát triển đến năm 2030
Quyết định số 569/QĐ-TTg năm 2022 đã đề ra hệ thống chỉ tiêu cụ thể nhằm định hướng toàn bộ hoạt động quản lý khoa học và công nghệ quốc gia. Theo Quyết định số 569/QĐ-TTg năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu đến năm 2030 đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp TFP vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 50%. Đây là minh chứng rõ nét cho định hướng chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang dựa vào hàm lượng tri thức và công nghệ.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, chính sách huy động nguồn lực tài chính cũng được quy định rõ ràng. Theo Quyết định số 569/QĐ-TTg năm 2022, đầu tư cho khoa học và công nghệ đạt 1,5% - 2,0% GDP, trong đó tổng chi quốc gia cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt 1% - 1,2% GDP đến năm 2030. Đồng thời, nguồn lực xã hội hóa giữ vai trò nòng cốt khi mà theo Quyết định số 569/QĐ-TTg năm 2022, tỷ trọng đóng góp của xã hội cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chiếm 65% - 70% tổng chi vào năm 2030. Cơ cấu đầu tư này phản ánh sự chuyển dịch trọng tâm đổi mới sáng tạo về phía khu vực doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.
Thách thức và bài học kinh nghiệm trong quản lý nghiên cứu khoa học
Rủi ro và tính bất định trong hoạt động sáng tạo khoa học
Một trong những thách thức lớn nhất của công tác quản lý là ứng xử với rủi ro và thất bại trong nghiên cứu. Khác với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản hay sản xuất kinh doanh nơi các thông số kỹ thuật có thể định lượng trước với độ chính xác cao, hoạt động nghiên cứu khoa học luôn hàm chứa yếu tố thử nghiệm và khám phá. Một đề tài nghiên cứu cơ bản có thể không tìm ra định lý mong muốn, hoặc một dự án thử nghiệm công nghệ có thể phát hiện ra giải pháp đề xuất không đạt hiệu quả kinh tế như giả thuyết ban đầu. Trong quản lý học thuật tiến bộ, các thất bại kỹ thuật có phương pháp luận chặt chẽ vẫn được ghi nhận là một đóng góp tri thức quý giá, giúp cộng đồng khoa học tránh lặp lại các lối mòn không hiệu quả. Do đó, khung khổ pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế miễn trừ trách nhiệm dân sự đối với các rủi ro khách quan đã thực hiện đúng quy trình chuyên môn.
Liêm chính học thuật và bảo đảm đạo đức nghiên cứu
Liêm chính học thuật (academic integrity) là nền tảng sống còn bảo đảm uy tín của nền khoa học quốc gia. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát dòng tiền và nghiệm thu sản phẩm mà còn phải xây dựng hàng rào đạo đức nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn các hành vi đạo văn, ngụy tạo số liệu, gian lận công bố hoặc chuyển giao các công nghệ tiềm ẩn nguy cơ hủy hoại môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Thiết lập các ủy ban đạo đức nghiên cứu độc lập, áp dụng các phần mềm kiểm tra trùng lặp văn bản chuyên nghiệp và công khai minh bạch toàn bộ các công trình sử dụng ngân sách nhà nước là những biện pháp quản trị thiết yếu để nâng cao chất lượng nền khoa học Việt Nam trên trường quốc tế.