Từ điển học thuật Khoa học tự nhiên

Pin mặt trời chất màu nhạy quang (DSSC) là gì?

Tiếng Anhdye-sensitized solar cell

Tên gọi khácpin mặt trời nhạy quangpin GrätzelDSSC

Pin mặt trời chất màu nhạy quang là thiết bị quang điện hóa chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời trực tiếp thành điện năng, dựa trên cơ chế hấp thụ photon của các phân tử chất nhuộm nhạy quang liên kết trên bề mặt màng oxit bán dẫn nano xốp.

Cập nhật 23/10/2026

Pin mặt trời chất màu nhạy quang (dye-sensitized solar cell, viết tắt là DSSC hoặc DSC) là một thiết bị quang điện hóa chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời trực tiếp thành điện năng, dựa trên cơ chế hấp thụ photon của các phân tử chất nhuộm nhạy quang liên kết trên bề mặt màng mỏng bán dẫn oxit kim loại cấu trúc nano xốp. Khác biệt cơ bản với các loại pin mặt trời bán dẫn thể rắn truyền thống dựa trên lớp chuyển tiếp p-n, loại pin này tách biệt hoàn toàn hai chức năng cốt lõi: quá trình hấp thụ ánh sáng sinh hạt mang điện do các phân tử chất nhuộm đảm nhiệm, trong khi quá trình dẫn truyền điện tử và lỗ trống diễn ra độc lập thông qua mạng lưới màng oxit bán dẫn và hệ dung dịch điện ly oxy hóa khử. Bài viết này trình bày chi tiết về lịch sử phát triển, cấu trúc cấu tạo, động học truyền điện tích, công thức tính toán hiệu suất, các ứng dụng thực tế cùng hiện trạng nghiên cứu công nghệ này tại Việt Nam.

Khái niệm và lịch sử phát triển

Pin mặt trời chất màu nhạy quang còn thường được giới khoa học gọi là pin Grätzel, nhằm vinh danh giáo sư Michael Grätzel thuộc Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại Lausanne (EPFL). Mặc dù hiện tượng nhạy quang hóa trên các điện cực bán dẫn đã được nghiên cứu từ nửa sau thế kỷ 20, nhưng bước ngoặt đột phá mang tính cách mạng chỉ thực sự xuất hiện vào năm 1991. Trong bài báo khoa học then chốt công bố trên tạp chí Nature vào năm 1991, hai nhà khoa học Brian O'Regan và Michael Grätzel đã giới thiệu một cấu trúc pin quang điện hóa mới sử dụng màng keo titan dioxide (anatase TiO2) mesoporous với diện tích bề mặt tiếp xúc cực lớn, giúp tăng mật độ hấp thụ chất màu lên hàng nghìn lần so với bề mặt phẳng nhẵn.

Theo công bố gốc của O'Regan và Grätzel (1991), linh kiện pin chế tạo ở điều kiện phòng thí nghiệm đã đạt hiệu suất chuyển đổi quang điện tổng thể từ 7.1% đến 7.9% dưới nguồn bức xạ mặt trời mô phỏng chuẩn và đạt tới 12% dưới điều kiện ánh sáng khuếch tán tự nhiên. Thành tựu này đã mở ra một nhánh nghiên cứu hoàn toàn mới trong lĩnh vực quang điện thế hệ thứ ba, chứng minh khả năng chế tạo pin mặt trời hiệu suất cao từ các vật liệu phổ biến, chi phí thấp mà không đòi hỏi dây chuyền sản xuất bán dẫn siêu sạch đắt đỏ.

Cấu tạo chi tiết và vai trò của các thành phần

Một tế bào pin mặt trời chất màu nhạy quang hoàn chỉnh được ghép nối từ năm thành phần chức năng cơ bản theo cấu trúc lớp kẹp sandwich:

  • Đế kính dẫn điện trong suốt: Thường sử dụng kính phủ màng oxit thiếc pha tạp fluor (fluorine-doped tin oxide, FTO) hoặc oxit thiếc pha tạp indi (indium tin oxide, ITO). Lớp dẫn điện FTO được ưu tiên ứng dụng phổ biến hơn do duy trì được điện trở suất thấp và độ bền cơ nhiệt cao trong quá trình nung nhiệt độ cao ở các bước chế tạo tiếp theo.
  • Màng quang cực bán dẫn nano xốp (Photoanode): Theo tổng quan toàn diện của Hagfeldt và cộng sự (2010), lớp màng quang cực thường có độ dày khoảng 10 đến 12 um, được tạo thành từ mạng lưới liên kết thiêu kết của các hạt nano titan dioxide dạng anatase với đường kính hạt khoảng 20 nm. Cấu trúc mesoporous này tạo nên một diện tích bề mặt thực tế gấp hàng nghìn lần diện tích hình học chiếu sáng của đế kính, cho phép một lượng rất lớn phân tử chất nhuộm bám dính thành lớp đơn phân tử (monolayer).
  • Chất nhạy quang (Sensitizer / Dye): Là các phân tử hấp thụ ánh sáng liên kết hóa học trực tiếp lên bề mặt oxit bán dẫn qua các nhóm gắn kết (thường là nhóm cacboxylic hoặc axit photphonic). Chất nhạy quang có thể là phức chất cơ kim gốc ruthenium (như phức chất N3, N719, chất nhuộm đen Black Dye), chất màu hữu cơ tổng hợp không chứa kim loại (như indoline, squaraine, coumarin) hoặc chất chiết xuất tự nhiên giàu anthocyanin và diệp lục.
  • Dung dịch chất điện ly (Electrolyte): Đóng vai trò là chất môi giới vận chuyển điện tích lỏng hoặc gel nằm giữa hai điện cực. Cặp oxy hóa khử truyền thống và phổ biến nhất là cặp iodide/triiodide (I-/I3-) hòa tan trong dung môi hữu cơ phân cực không proton (như axetonitril, metoxiaxetonitril hoặc propylen cacbonat). Trong các nghiên cứu hiện đại, các phức chất oxy hóa khử gốc coban (Co2+/Co3+) hoặc đồng (Cu+/Cu2+) cũng được phát triển để tăng điện áp mạch hở.
  • Điện cực đối (Counter Electrode / Cathode): Gồm một lớp kính dẫn điện FTO được phủ màng xúc tác siêu mỏng bằng kim loại platin (Pt) hoặc các vật liệu gốc cacbon (than chì, ống nano cacbon, graphene) nhằm xúc tác cho phản ứng hoàn nguyên cặp oxy hóa khử.

Cơ chế hoạt động và động học truyền điện tích

Quá trình chuyển đổi năng lượng từ ánh sáng thành dòng điện một chiều trong pin DSSC diễn ra theo một chu trình khép kín gồm năm bước phản ứng liên tiếp:

  1. Hấp thụ photon và kích thích quang: Phân tử chất màu ở trạng thái cơ bản hấp thụ photon ánh sáng có năng lượng thích hợp và chuyển lên trạng thái kích thích điện tử.
  2. Bơm điện tử vào bán dẫn: Điện tử từ trạng thái kích thích của chất màu được bơm trực tiếp vào vùng dẫn của màng bán dẫn anatase TiO2. Theo Hagfeldt và cộng sự (2010), quá trình bơm điện tử này xảy ra với tốc độ siêu nhanh ở thang thời gian cực ngắn từ 100 femtosecond đến 10 picosecond (100 fs đến 10 ps).
  3. Dẫn truyền điện tích qua mạch ngoài: Các điện tử sau khi đi vào vùng dẫn sẽ khuếch tán qua mạng lưới hạt nano TiO2 để tới lớp màng dẫn điện FTO của quang cực, sau đó di chuyển qua tải tiêu thụ ở mạch ngoài để sinh công điện.
  4. Tái sinh chất màu: Phân tử chất màu sau khi mất điện tử sẽ trở thành ion dương bị oxy hóa. Theo Hagfeldt và cộng sự (2010), quá trình tái sinh chất màu diễn ra nhờ sự khử của ion iodide trong dung dịch điện ly ở thang thời gian microsecond vào khoảng 1 us, đưa chất màu trở lại trạng thái trung hòa ban đầu.
  5. Khử chất điện ly tại đối cực: Ion triiodide tạo thành trong dung dịch điện ly sẽ khuếch tán về phía đối cực, tại đây nó nhận lại điện tử từ mạch ngoài dưới tác dụng xúc tác của platin để hoàn nguyên trở lại thành iodide, khép kín chu trình quang điện hóa.

Sở dĩ pin DSSC hoạt động hiệu quả là do sự chênh lệch vượt bậc giữa tốc độ của các phản ứng thuận có ích và các phản ứng cạnh tranh bất lợi. Theo Hagfeldt và cộng sự (2010), phản ứng tái hợp giữa điện tử dẫn trong TiO2 và ion triiodide diễn ra tương đối chậm ở thang thời gian millisecond từ 10 ms đến 100 ms. Do thời gian tái hợp chậm hơn nhiều bậc so với thời gian bơm điện tử (100 fs đến 10 ps) và thời gian tái sinh chất màu (1 us), gần như toàn bộ điện tử được bơm vào bán dẫn đều thoát khỏi tái hợp để đi ra mạch ngoài.

Công thức và các đại lượng đặc trưng hiệu suất

Hiệu suất chuyển đổi quang năng tổng thể của pin mặt trời chất màu nhạy quang được định lượng thông qua công thức vật lý chuẩn sau đây:

η=PmaxPin=Jsc⋅Voc⋅FFPin\eta = \frac{P_{max}}{P_{in}} = \frac{J_{sc} \cdot V_{oc} \cdot FF}{P_{in}}

Trong công thức toán học nêu trên:

  • Đại lượng η\eta biểu diễn hiệu suất chuyển đổi quang năng tổng thể của pin (tính theo tỷ lệ phần trăm).
  • Đại lượng PmaxP_{max} là công suất điện cực đại đo được tại điểm làm việc tối ưu trên đường đặc trưng dòng thế của linh kiện.
  • Đại lượng PinP_{in} là tổng công suất bức xạ ánh sáng chiếu tới diện tích bề mặt hoạt động của pin, đo theo điều kiện thử nghiệm tiêu chuẩn bức xạ AM 1.5G với mật độ công suất quy ước là 1000 W/m^2.
  • Đại lượng JscJ_{sc} là mật độ dòng quang điện ngắn mạch, biểu thị dòng điện cực đại sinh ra trên một đơn vị diện tích khi điện thế hai cực bằng không.
  • Đại lượng VocV_{oc} là thế mạch hở của pin khi không có dòng điện ngoài chạy qua, được quyết định chủ yếu bởi độ chênh lệch năng lượng giữa mức Fermi bán dẫn của màng quang cực và thế oxy hóa khử chuẩn của dung dịch điện ly.
  • Đại lượng FFFF là hệ số lấp đầy, phản ánh độ vuông vắn của đường cong đặc trưng I-V, được tính toán thông qua tỷ số:
FF=Jmp⋅VmpJsc⋅VocFF = \frac{J_{mp} \cdot V_{mp}}{J_{sc} \cdot V_{oc}}

với JmpJ_{mp} là mật độ dòng điện tại điểm công suất cực đại và VmpV_{mp} là điện thế tại điểm công suất cực đại của linh kiện.

Bên cạnh đó, hiệu suất lượng tử ngoài theo bước sóng (Incident Photon-to-Current Efficiency, viết tắt là IPCE) phản ánh xác suất một photon chiếu tới sinh ra một điện tử đi vào mạch ngoài, được tính theo hệ thức tích số:

IPCE(λ)=LHE(λ)⋅ϕinj⋅ηcollIPCE(\lambda) = LHE(\lambda) \cdot \phi_{inj} \cdot \eta_{coll}

với IPCE(λ)IPCE(\lambda) là hiệu suất lượng tử ngoài tại bước sóng bức xạ λ\lambda, đại lượng LHE(λ)LHE(\lambda) là hiệu suất thu hoạch ánh sáng của màng chất nhuộm, đại lượng ϕinj\phi_{inj} là hiệu suất lượng tử của quá trình bơm điện tử từ chất nhuộm kích thích vào bán dẫn, và đại lượng ηcoll\eta_{coll} là hiệu suất thu gom điện tử dẫn về cực thu.

So sánh pin DSSC với các công nghệ pin mặt trời khác

Để nhận diện rõ nét vị thế công nghệ của pin DSSC trong bức tranh năng lượng tái tạo tổng thể, bảng số liệu dưới đây tổng hợp các đặc tính kỹ thuật cốt lõi khi so sánh DSSC với pin mặt trời silicon tinh thể truyền thống và pin mặt trời perovskite thế hệ mới:

Tiêu chí so sánh Pin mặt trời DSSC (Chất màu nhạy quang) Pin mặt trời Silicon tinh thể (c-Si) Pin mặt trời Perovskite
Cơ chế chuyển đổi năng lượng Quang điện hóa phân tử, tách biệt hấp thụ ánh sáng và dẫn truyền điện tích Tiếp giáp p-n khối trong chất bán dẫn thể rắn đồng nhất Tiếp giáp dị thể màng mỏng bán dẫn perovskite hữu cơ vô cơ
Kỷ lục hiệu suất phòng thí nghiệm Đạt 15.2% dưới ánh sáng mặt trời theo Ren và cs. (2022); 13.0% theo Green và cs. (2023) Hiệu suất công nghệ vượt trội, cao hơn đáng kể so với pin màng mỏng Hiệu suất tăng trưởng nhanh chóng, tiệm cận pin silicon đơn tinh thể
Hiệu suất dưới ánh sáng tán xạ / trong nhà Rất cao, đạt từ 28.4% đến 30.2% dưới nguồn sáng môi trường tán xạ Suy giảm nghiêm trọng khi cường độ ánh sáng yếu hoặc bị bóng râm che khuất Khá cao dưới điều kiện ánh sáng trong nhà nhưng dễ suy thoái
Độ trong suốt và màu sắc thẩm mỹ Có thể điều chỉnh bán trong suốt, đa dạng màu sắc theo loại chất nhuộm Đục mờ hoàn toàn, màu xanh đen hoặc xám đen cố định Có thể bán trong suốt nhưng màu sắc giới hạn từ nâu đến đen
Yêu cầu điều kiện chế tạo Quy trình in phủ màng mỏng đơn giản, nhiệt độ trung bình, không cần phòng siêu sạch Công nghệ luyện kim tinh khiết cực cao, chân không cao, chi phí vốn lớn Xử lý dung dịch ở nhiệt độ thấp nhưng nhạy cảm cao với độ ẩm không khí
Độ bền môi trường và nhiệt độ Nhạy cảm với sự rò rỉ và bay hơi của dung dịch điện ly khi nhiệt độ tăng cao Rất cao, tuổi thọ công nghiệp ngoài trời kéo dài hàng chục năm ổn định Dễ bị phân hủy bởi độ ẩm, nhiệt độ và bức xạ tử ngoại kéo dài

Hiện trạng nghiên cứu và khảo sát độ bền nhiệt tại Việt Nam

Tại Việt Nam, công nghệ pin mặt trời chất màu nhạy quang đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu sâu rộng từ các trường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu như Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Các hướng tiếp cận chủ đạo bao gồm tối ưu hóa quy trình tổng hợp hạt nano TiO2 bằng phương pháp thủy nhiệt, nghiên cứu chiết xuất các hợp chất màu tự nhiên từ thực vật bản địa để làm chất nhạy quang chi phí thấp, và khảo sát cơ chế thoái hóa độ bền trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm.

Một nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu của nhóm tác giả Nguyễn Thái Hoàng, Nguyễn Thị Thùy Hương, Huỳnh Lê Thanh Nguyên và Lê Viết Hải (2020) công bố trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã chế tạo thành công pin DSSC với quy trình lắp ráp tương thích với điều kiện thiết bị phòng thí nghiệm trong nước. Mẫu pin ban đầu chế tạo đạt hiệu suất chuyển đổi quang năng là 8%, với mật độ dòng ngắn mạch đạt 17.5 mA/cm^2, thế mạch hở đạt 0.752 V và hệ số lấp đầy đạt 0.62. Các thông số này chứng minh năng lực chế tạo mẫu linh kiện tại Việt Nam hoàn toàn tiệm cận với mặt bằng nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới.

Bên cạnh việc chế tạo, nhóm tác giả Nguyễn Thái Hoàng và cộng sự (2020) đã tiến hành đánh giá độ bền nhiệt gia tốc của pin ở nhiệt độ 85°C liên tục trong 1000 giờ nhằm mô phỏng điều kiện làm việc khắc nghiệt ngoài trời. Kết quả thử nghiệm cho thấy sau 1000 giờ phơi nhiệt ở 85°C, tính năng quang điện của linh kiện suy giảm rất mạnh: hiệu suất chuyển đổi quang năng chỉ còn lại 0.83%, mật độ dòng ngắn mạch tụt giảm nghiêm trọng xuống còn 2.5 mA/cm^2, thế mạch hở giảm còn 0.621 V và hệ số lấp đầy còn 0.535. Áp dụng phương pháp phổ tổng trở điện hóa (EIS), nghiên cứu đã bóc tách chính xác động học suy thoái: trong giai đoạn đầu sau 120 giờ phơi nhiệt, điện cực quang anod bị suy giảm do tổng trở giao diện giữa TiO2 và dung dịch điện ly tăng lên; tiếp đó sau 240 giờ phơi nhiệt, dung dịch điện ly bắt đầu thoái hóa nhanh chóng khiến điện trở khuếch tán gia tăng. Đặc biệt, khi nhóm nghiên cứu thay mới dung dịch điện ly sau mốc 1000 giờ, hiệu suất của pin đã phục hồi đáng kể, khẳng định dung dịch điện ly lỏng chính là mắt xích yếu nhất quyết định độ bền nhiệt của pin DSSC trong điều kiện thực tế.

Ưu điểm và những hạn chế kỹ thuật cốt lõi

Công nghệ pin mặt trời chất màu nhạy quang sở hữu những lợi thế cạnh tranh riêng biệt so với các dòng pin mặt trời thể rắn, nhưng đồng thời cũng đối mặt với các rào cản kỹ thuật nội tại:

Ưu điểm nổi bật

  • Khả năng hoạt động vượt trội trong điều kiện ánh sáng yếu: Do không phụ thuộc vào lớp tiếp giáp p-n nhạy cảm với tái hợp thể tích, pin DSSC hoạt động cực kỳ hiệu quả dưới ánh sáng khuếch tán, trời nhiều mây, sáng sớm, chiều muộn hoặc ánh sáng nhân tạo trong nhà. Theo công bố của Ren và cộng sự (2022), hiệu suất thu năng lượng trong nhà của pin DSSC đạt từ 28.4% đến 30.2%, vượt xa pin silicon trong cùng điều kiện.
  • Khả năng bán trong suốt và tính thẩm mỹ cao: Tế bào pin có thể được chế tạo với độ trong suốt có thể điều chỉnh và nhiều gam màu phong phú tùy thuộc vào chất nhuộm lựa chọn, biến pin DSSC thành vật liệu lý tưởng cho ứng dụng điện mặt trời tích hợp công trình xây dựng (Building-Integrated Photovoltaics, BIPV) như cửa sổ kính phát điện, vách kính mặt dựng tòa nhà.
  • Hệ số suy giảm hiệu suất theo nhiệt độ thấp: Khác với pin silicon truyền thống thường bị sụt giảm mạnh điện áp khi nhiệt độ vận hành ngoài trời tăng cao, pin DSSC có hệ số nhiệt độ nhỏ hơn nhiều, giúp duy trì hiệu suất ổn định hơn trong những ngày nắng nóng gắt.
  • Chi phí sản xuất và đầu tư ban đầu thấp: Quy trình chế tạo màng mesoporous và phủ lớp chất màu sử dụng các kỹ thuật in lưới hoặc phủ quay đơn giản, không đòi hỏi các lò nung chân không cao cấp hay nguyên liệu silicon siêu tinh khiết.

Hạn chế kỹ thuật và thách thức độ bền

  • Hiệu suất chuyển đổi ngoài trời chưa cạnh tranh: Dù đã đạt 15.2% ở quy mô nghiên cứu đỉnh cao theo Ren và cộng sự (2022) và khoảng 13.0% theo bảng chuẩn của Green và cộng sự (2023), hiệu suất của DSSC vẫn thấp hơn đáng kể so với mức trên 20% của pin silicon thương mại trên diện tích mô-đun lớn.
  • Tính dễ bay hơi và rò rỉ của dung dịch điện ly lỏng: Việc sử dụng các dung môi hữu cơ dễ bay hơi trong hệ điện ly I-/I3- tạo ra thách thức khổng lồ về kỹ thuật đóng gói màng kín (encapsulation). Dưới tác động của chu kỳ nhiệt nóng lạnh ngoài trời, dung môi có xu hướng bay hơi, rò rỉ hoặc ăn mòn các đường hàn kín, gây suy thoái nhanh chóng như thực nghiệm ở 85°C của nghiên cứu trong nước đã chỉ ra.
  • Chất xúc tác và chất màu đắt đỏ: Nhiều loại chất màu đạt hiệu suất cao hiện nay vẫn dựa trên kim loại hiếm ruthenium, kết hợp với điện cực đối dùng platin đắt tiền, gây cản trở việc hạ giá thành ở quy mô công nghiệp đại trà nếu không thay thế bằng các dẫn xuất hữu cơ thuần và vật liệu carbon dẫn điện.

Xu hướng phát triển và các vấn đề khoa học còn mở

Nhằm khắc phục các nhược điểm cố hữu và đưa pin DSSC từ phòng thí nghiệm ra thị trường thương mại quy mô lớn, cộng đồng khoa học quốc tế đang dồn lực vào ba hướng phát triển trọng điểm:

Thứ nhất là phát triển dòng pin DSSC thể rắn (solid-state DSSC, ssDSSC) và thể bán rắn (gel polymer). Bằng cách thay thế dung môi hữu cơ lỏng bằng các vật liệu dẫn truyền lỗ trống hữu cơ thể rắn (như spiro-OMeTAD, P3HT) hoặc chất điện ly dạng gel polyme, nguy cơ rò rỉ và bay hơi dung môi được triệt tiêu hoàn toàn, cải thiện đáng kể tuổi thọ cơ học của linh kiện.

Thứ hai là kỹ thuật đồng nhạy quang (cosensitization) kết hợp nhiều loại phẩm nhuộm có phổ hấp thụ bổ trợ cho nhau nhằm mở rộng dải thu nhận photon từ vùng tử ngoại đến cận hồng ngoại. Nghiên cứu mang tính đột phá của Ren và cộng sự (2022) trên tạp chí Nature đã chứng minh việc sử dụng axit hydroxamic tiền hấp phụ lên bề mặt màng nano TiO2 giúp các phân tử chất nhuộm đóng gói dày đặc và có trật tự hơn, giúp thiết bị pin diện tích 2.8 cm^2 duy trì độ ổn định liên tục trong hơn 500 giờ chiếu sáng mà không bị suy giảm hiệu suất đáng kể.

Thứ ba là định vị thương mại hóa chuyên biệt cho thị trường thiết bị vạn vật kết nối (IoT) tự cấp nguồn và thiết bị điện tử cầm tay trong nhà. Với khả năng đạt hiệu suất lên tới 30.2% dưới ánh sáng đèn huỳnh quang và đèn LED, pin mặt trời chất màu nhạy quang đang trở thành nguồn năng lượng xanh tối ưu thay thế pin hóa học truyền thống cho các cảm biến thông minh không dây trong các tòa nhà hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Pin mặt trời chất màu nhạy quang (DSSC) khác gì so với pin mặt trời silicon?

Khác với pin silicon tạo dòng điện dựa trên lớp tiếp giáp p-n khối đồng nhất, pin DSSC tách biệt quá trình hấp thụ photon do các phân tử phẩm nhuộm đảm nhiệm và quá trình dẫn truyền điện tử do màng oxit bán dẫn nano TiO2 thực hiện.

Tại sao pin DSSC hoạt động hiệu quả hơn pin silicon trong điều kiện ánh sáng yếu?

Pin DSSC không bị suy giảm mạnh điện áp khi cường độ sáng giảm và không bị cản trở bởi tái hợp thể tích như bán dẫn khối, cho phép đạt hiệu suất từ 28.4% đến 30.2% dưới ánh sáng tán xạ trong nhà theo Ren và cộng sự (2022).

Những nguyên nhân chính gây suy giảm độ bền của pin DSSC là gì?

Nguyên nhân suy thoái hàng đầu của pin DSSC là sự bay hơi, rò rỉ và phân hủy của dung dịch điện ly lỏng chứa cặp I-/I3- khi nhiệt độ môi trường tăng cao, cùng với hiện tượng phân hủy phân tử chất màu dưới tác động kéo dài của tia tử ngoại.

Pin DSSC có thể đạt được hiệu suất chuyển đổi quang năng tối đa là bao nhiêu?

Dưới ánh sáng mặt trời tự nhiên AM 1.5G, kỷ lục phòng thí nghiệm của pin DSSC đạt 15.2% theo Ren và cộng sự (2022), trong khi dưới điều kiện ánh sáng môi trường trong nhà thiết bị có thể đạt hiệu suất lên tới 30.2%.

Tài liệu tham khảo

  1. O'Regan, B., & Grätzel, M. (1991). A low-cost, high-efficiency solar cell based on dye-sensitized colloidal TiO2 films. Nature, 353(6346), 737–740. DOI: 10.1038/353737a0
  2. Hagfeldt, A., Boschloo, G., Sun, L., Kloo, L., & Pettersson, H. (2010). Dye-Sensitized Solar Cells. Chemical Reviews, 110(11), 6595–6663. DOI: 10.1021/cr900356p
  3. Ren, Y., Zhang, D., Suo, J., Cao, Y., Eickemeyer, F. T., Vlachopoulos, N., Zakeeruddin, S. M., Hagfeldt, A., & Grätzel, M. (2022). Hydroxamic acid pre-adsorption raises the efficiency of cosensitized solar cells. Nature, 611(7935), 281–286. DOI: 10.1038/s41586-022-05460-z
  4. Green, M. A., Dunlop, E. D., Yoshita, M., Kopidakis, N., Bothe, K., Siefer, G., & Hao, X. (2023). Solar cell efficiency tables (version 62). Progress in Photovoltaics: Research and Applications, 31(7), 651–663. DOI: 10.1002/pip.3726
  5. Nguyễn Thái Hoàng, Nguyễn Thị Thùy Hương, Huỳnh Lê Thanh Nguyên, & Lê Viết Hải (2020). Chế tạo và khảo sát độ bền nhiệt của pin mặt trời chất màu nhạy quang. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bản B, 62(3). Nguồn