Dân cư đô thị là tập hợp các cá nhân sinh sống, cư trú và làm việc thường xuyên trong phạm vi không gian lãnh thổ được xác định là đô thị, đặc trưng bởi mật độ tập trung cao, lối sống gắn liền với các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và mức độ phụ thuộc lớn vào hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội tập trung. Khái niệm này không chỉ giới hạn ở khía cạnh số lượng nhân khẩu đơn thuần theo ranh giới hành chính, mà còn phản ánh cấu trúc xã hội phức hợp, tính đa dạng về nguồn gốc xuất thân, cùng mạng lưới quan hệ xã hội được định hình qua quá trình đô thị hóa. Bài viết phân tích toàn diện khái niệm dân cư đô thị dưới góc độ nhân khẩu học và xã hội học, các chuẩn mực phân loại quốc tế, động thái biến đổi toàn cầu, mối tương quan giữa dân số và đất đai, cũng như các tác động thực tiễn đến sinh kế và sức khỏe cộng đồng.
Bản chất xã hội học và các thuộc tính cốt lõi của dân cư đô thị
Dưới góc độ nhân khẩu học và xã hội học đô thị, dân cư đô thị là một thực thể xã hội có những thuộc tính cấu trúc khác biệt rõ rệt so với dân cư nông thôn. Trong công trình kinh điển đặt nền móng cho xã hội học đô thị hiện đại, Louis Wirth (1938) đã định nghĩa cộng đồng đô thị là một điểm quần cư tương đối lớn, đậm đặc và lâu dài của các cá nhân có tính không thuần nhất về mặt xã hội. Theo lý thuyết của Louis Wirth (1938), bản chất của đời sống dân cư đô thị được quy định bởi sự tương tác đồng thời giữa ba biến số cơ bản: quy mô dân số, mật độ dân cư và tính không thuần nhất xã hội.
Quy mô dân số lớn tạo ra sự phân công lao động chuyên môn hóa sâu sắc, thúc đẩy trao đổi thương mại và cung cấp dịch vụ phức hợp. Khi quy mô cộng đồng mở rộng, các mối quan hệ mặt đối mặt mang tính thân tộc hoặc truyền thống dần bị thay thế bởi các mối quan hệ xã hội gián tiếp, thứ cấp và mang tính chức năng. Mật độ dân số cao tập trung một lượng lớn người trong không gian chật hẹp, dẫn đến mức độ cạnh tranh không gian gay gắt, đòi hỏi các cơ chế quản lý không gian nghiêm ngặt, quy hoạch hạ tầng phân lớp và tạo ra cả tính kích thích thần kinh lẫn sự ẩn danh xã hội. Tính không thuần nhất xã hội xuất phát từ việc các đô thị luôn là điểm đến của các dòng di cư đa dạng về sắc tộc, tôn giáo, vùng miền và trình độ học vấn, tạo nên một cơ cấu nhân khẩu phân tầng phức tạp.
Sự chuyển dịch từ cộng đồng nông thôn truyền thống sang dân cư đô thị phản ánh bước chuyển đổi từ cơ cấu xã hội dựa trên sự đồng nhất và kiểm soát xã hội phi chính thức sang một trật tự xã hội dựa trên sự phụ thuộc chức năng tương hỗ và luật pháp. Cư dân đô thị phụ thuộc hoàn toàn vào các mạng lưới phân phối lương thực, năng lượng, nước sạch và xử lý chất thải bên ngoài nơi cư trú. Họ ít gắn bó với đất đai canh tác mà tham gia trực tiếp vào thị trường lao động công nghiệp, công nghệ, thương mại và dịch vụ.
Hệ thống phân loại quốc tế: Chuẩn Degree of Urbanisation
Trong nhiều thập kỷ, việc so sánh dân số đô thị giữa các quốc gia gặp trở ngại lớn do mỗi nước sử dụng một ngưỡng định nghĩa riêng biệt dựa trên ranh giới hành chính truyền thống hoặc ngưỡng quy mô dân số tùy biến. Nhằm giải quyết bất cập này, Ủy ban Thống kê Liên Hợp Quốc đã chính thức thông qua phương pháp Degree of Urbanisation (DEGURBA) vào năm 2020. Đây là chuẩn mực phân loại không gian toàn cầu do 6 tổ chức quốc tế gồm Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Ủy ban Châu Âu, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), Chương trình Định cư Con người Liên Hợp Quốc (UN-Habitat), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ngân hàng Thế giới (The World Bank) đồng phát triển (OECD và cs., 2021).
Chuẩn DEGURBA phân loại toàn bộ lãnh thổ quốc gia dựa trên hệ thống ô lưới không gian diện tích 1 km2 kết hợp với dữ liệu mật độ và quy mô dân số liên tục, chia thành 3 lớp phân loại cơ bản:
- Thành phố (dân cư đậm đặc): Gồm các ô lưới không gian liên tục có mật độ dân số tối thiểu 1.500 người/km2 và tổng quy mô dân số tích lũy đạt từ 50.000 người trở lên, trong đó trên 50% dân cư sinh sống trong trung tâm đô thị liên tục này (OECD và cs., 2021).
- Thị trấn và khu vực bán đậm đặc (mật độ trung bình): Gồm các ô lưới không gian có mật độ tối thiểu 300 người/km2 và tổng quy mô dân số tối thiểu đạt 5.000 người, trong đó dưới 50% dân số sống trong thành phố lớn nhưng ít nhất 50% dân số sống trong cụm đô thị trung gian (OECD và cs., 2021).
- Khu vực nông thôn (mật độ thưa thớt): Gồm các ô lưới nằm ngoài hai nhóm trên, nơi phần lớn dân số cư trú trong các vùng có mật độ dưới 300 người/km2 (OECD và cs., 2021).
Bảng đối chiếu dưới đây làm rõ các tiêu chí không gian và nhân khẩu học giữa ba nhóm phân loại theo chuẩn DEGURBA được công bố trong cẩm nang phương pháp luận của OECD và các cơ quan Liên Hợp Quốc (2021):
| Cấp phân loại không gian | Mật độ dân số tối thiểu | Quy mô dân số cụm tối thiểu | Tỷ lệ phân bổ dân cư | Đặc trưng chức năng hạ tầng |
|---|---|---|---|---|
| Thành phố (Cities) | 1.500 người/km2 | 50.000 người | Trên 50% dân số thuộc trung tâm đậm đặc | Hạ tầng kỹ thuật tập trung, dịch vụ đa tầng, trung tâm việc làm phi nông nghiệp |
| Thị trấn và bán đậm đặc (Towns and semi-dense areas) | 300 người/km2 | 5.000 người | Ít nhất 50% dân số thuộc cụm đô thị trung gian | Hạ tầng kết nối trung gian, phối hợp dịch vụ địa phương và nông nghiệp ven đô |
| Khu vực nông thôn (Rural areas) | Dưới 300 người/km2 | Dưới 5.000 người | Trên 50% dân số sống ngoài các cụm đô thị | Sản xuất nông lâm ngư nghiệp, mật độ xây dựng thấp, phân tán tự nhiên |
Việc áp dụng chuẩn DEGURBA (2020) giúp loại bỏ sự sai lệch do ranh giới hành chính quy định cứng nhắc, cho phép theo dõi thực chất quá trình tích tụ dân cư đô thị vượt ra ngoài địa giới hành chính của các đô thị lõi.
Động thái biến đổi dân số đô thị toàn cầu
Quá trình đô thị hóa trong thế kỷ qua đã định hình lại sự phân bố dân số trên toàn hành tinh. Báo cáo triển vọng đô thị hóa thế giới do Vụ Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc (UN DESA, 2019) công bố cho thấy sự chuyển dịch nhân khẩu học chưa từng có trong lịch sử nhân loại.
Theo số liệu thống kê của UN DESA (2019), vào năm 1950, tỷ lệ dân cư đô thị toàn cầu chỉ chiếm 30% với tổng số khoảng 751 triệu người. Đến năm 2018, quy mô dân cư đô thị toàn cầu đã tăng lên mức 4,2 tỷ người, chiếm 55% tổng dân số thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc kể từ thập niên đầu của thế kỷ hai mươi mốt, nhân loại đã chính thức bước vào kỷ nguyên mà số người sinh sống tại các khu vực đô thị nhiều hơn số người sinh sống ở khu vực nông thôn.
Xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong những thập kỷ tới. Báo cáo của UN DESA (2019) ước tính tỷ lệ dân cư đô thị toàn cầu sẽ đạt ngưỡng 68% vào năm 2050. Phần lớn mức tăng trưởng dân số đô thị trong tương lai dự kiến sẽ tập trung tại các quốc gia đang phát triển thuộc khu vực châu Á và châu Phi, nơi tốc độ công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang diễn ra nhanh chóng.
Mối tương quan giữa tăng trưởng dân cư và mở rộng đất đô thị
Một câu hỏi trung tâm trong quy hoạch không gian là liệu không gian vật lý của đô thị mở rộng cùng tốc độ, nhanh hơn hay chậm hơn tốc độ gia tăng của dân cư đô thị. Để trả lời câu hỏi này, Karen C. Seto và cộng sự (2011) đã thực hiện một nghiên cứu phân tích gộp quy mô lớn, tổng hợp kết quả từ 180 công trình nghiên cứu định lượng về chuyển đổi đất đô thị tại 326 thành phố trên thế giới giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2000.
Kết quả phân tích của Seto và cộng sự (2011) cho thấy một quy luật phổ quát đáng chú ý: tại tất cả các khu vực địa lý trên thế giới và trong suốt 3 thập kỷ được khảo sát, tốc độ mở rộng diện tích đất đô thị luôn cao hơn hoặc tối thiểu bằng tốc độ tăng trưởng của dân cư đô thị. Điều này phản ánh xu hướng phát triển đô thị toàn cầu đang trở nên phân tán và tốn diện tích hơn (expansive growth) thay vì phát triển tập trung và nén chặt (compact growth).
Nghiên cứu của Seto và cộng sự (2011) chỉ ra rằng mặc dù gia tăng dân số là động lực chính thúc đẩy mở rộng không gian tại một số khu vực, nhưng các yếu tố kinh tế như tăng trưởng GDP bình quân đầu người, đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông và sự thay đổi trong lối sống tiêu dùng đất đai bình quân đầu người đóng vai trò quyết định khiến không gian vật lý mở rộng vượt xa tốc độ gia tăng nhân khẩu.
Tác động của môi trường đô thị lên cấu trúc sức khỏe dân cư
Môi trường sống đô thị tạo ra những điều kiện tác động đa chiều đến sức khỏe thể chất và tâm thần của dân cư. Trong bài báo tổng quan hệ thống đăng trên tạp chí Social Science and Medicine, Sandro Galea, Nicholas Freudenberg và David Vlahov (2005) đã hệ thống hóa các cơ chế mà qua đó môi trường đô thị định hình sức khỏe cộng đồng thông qua 3 nhóm đặc tính cấu trúc chủ yếu:
- Môi trường xã hội đô thị: Bao gồm mức độ phân tầng kinh tế - xã hội, mạng lưới hỗ trợ xã hội, cảm nhận an toàn trật tự và tình trạng tội phạm, mức độ gắn kết cộng đồng hoặc sự cô lập tâm lý của cư dân. Mật độ dân cư đông đúc nhưng tính gắn kết thân tộc giảm sút có thể gia tăng mức độ căng thẳng tâm lý mạn tính (Galea và cs., 2005).
- Môi trường vật lý xây dựng: Bao gồm chất lượng nhà ở, mật độ khói bụi và ô nhiễm tiếng ồn, không gian cây xanh công cộng, mạng lưới giao thông và hạ tầng cấp thoát nước. Sự thiếu hụt không gian vận động và ô nhiễm không khí tại các vùng dân cư mật độ cao là những nguy cơ trực tiếp dẫn tới bệnh hô hấp và tim mạch (Galea và cs., 2005).
- Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và xã hội: Mặc dù các đô thị tập trung các bệnh viện chuyên khoa và cơ sở y tế hiện đại, nhưng sự bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ giữa các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau tạo ra những hố sâu ngăn cách về chất lượng chăm sóc sức khỏe (Galea và cs., 2005).
Công trình của Galea và cộng sự (2005) nhấn mạnh rằng việc tập trung đông đảo dân cư trong đô thị không đương nhiên mang lại lợi thế sức khỏe nếu hạ tầng môi trường và các chính sách an sinh xã hội không được thiết kế tương thích với quy mô dân số gia tăng.
Chuyển dịch dân cư và sinh kế tại Việt Nam
Tại Việt Nam, sự gia tăng nhanh chóng của dân cư đô thị sau thời kỳ Đổi Mới gắn liền với hai tiến trình song hành: các dòng di cư lao động từ nông thôn ra các trung tâm đô thị lớn và quá trình chuyển đổi đất đai nông nghiệp thành các khu đô thị mới ở vùng ven đô.
Về khía cạnh di cư lao động, nghiên cứu thực nghiệm của Loc Duc Nguyen, Katharina Raabe và Ulrike Grote (2015) đăng trên tạp chí World Development đã cung cấp những phát hiện quan trọng về động cơ và hệ quả của dòng dịch chuyển dân cư từ nông thôn ra đô thị. Dựa trên tập dữ liệu bảng theo dõi 2.200 hộ gia đình nông thôn giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2010 và cuộc khảo sát trực tiếp 299 người di cư vào năm 2010 tại khu vực miền Trung Việt Nam, các tác giả đã phân tích cơ chế mà di cư đô thị tác động đến phúc lợi hộ gia đình.
Nghiên cứu của Nguyen, Raabe và Grote (2015) chứng minh rằng di cư việc làm ra các trung tâm đô thị đóng vai trò như một chiến lược thích ứng sinh kế hữu hiệu, giúp các hộ gia đình ở nông thôn đa dạng hóa nguồn thu nhập và giảm thiểu tính dễ bị tổn thương trước các cú sốc nông nghiệp. Thu nhập gửi về từ lao động di cư tại các đô thị đã mang lại tác động tăng trưởng thu nhập rõ rệt, cải thiện đáng kể điều kiện sống và góp phần giảm nghèo bền vững cho cộng đồng xuất cư (Nguyen và cs., 2015).
Ở chiều ngược lại của quá trình mở rộng đô thị, nghiên cứu của Phuc Quang Nguyen, August C. M. van Westen và Annelies Zoomers (2014) đăng trên tạp chí Habitat International đã đi sâu khảo sát quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp phục vụ phát triển đô thị tại miền Trung Việt Nam. Công trình này làm rõ việc thu hồi đất canh tác để xây dựng các khu đô thị đã làm biến đổi tận gốc cơ cấu sinh kế của các cộng đồng cư dân vốn làm nông nghiệp, biến họ từ người sản xuất lương thực thành cư dân đô thị mới phụ thuộc vào việc làm dịch vụ phi chính thức.
Nghiên cứu của Phuc và cộng sự (2014) chỉ ra rằng quá trình chuyển đổi này mở ra cơ hội tiếp cận lối sống hiện đại nhưng đồng thời tạo ra áp lực đào tạo nghề, phân hóa giàu nghèo và thách thức hòa nhập xã hội cho tầng lớp dân cư chuyển đổi.
Ranh giới, hạn chế và thách thức trong quản trị nhân khẩu học đô thị
Mặc dù việc xác định quy mô dân cư đô thị là cơ sở hàng đầu cho quy hoạch kinh tế - xã hội, công tác thống kê và quản lý nhân khẩu học đô thị luôn đối mặt với những ranh giới học thuật và thách thức thực tiễn phức tạp:
- Xung đột giữa ranh giới hành chính và ranh giới thực tế: Nhiều khu vực ven đô về mặt hành chính vẫn mang danh nghĩa nông thôn nhưng mật độ dân cư và hoạt động kinh tế đã hoàn toàn mang tính chất đô thị. Ngược lại, một số thành phố mở rộng địa giới hành chính bao trùm cả những vùng núi cao thưa thớt dân cư. Việc dựa thuần túy vào địa giới hành chính dẫn đến bức tranh sai lệch về quy mô dân cư đô thị thực tế.
- Vấn đề dân số trôi nổi (floating population): Các đô thị lớn thường xuyên dung nạp một lượng khổng lồ lao động di cư thời vụ, sinh viên, người buôn bán nhỏ lẻ chưa đăng ký thường trú hoặc tạm trú chính thức. Lượng dân cư không chính thức này tạo áp lực trực tiếp lên hệ thống giao thông, bệnh viện, trường học và mạng lưới điện nước nhưng thường bị bỏ sót trong các cân đối ngân sách nhà nước theo đầu người.
- Áp lực hạ tầng và phân tầng xã hội: Sự gia tăng cơ học quá nhanh của dân cư đô thị vượt quá năng lực đáp ứng của hạ tầng dẫn tới tình trạng tắc nghẽn giao thông, ngập úng đô thị, ô nhiễm không khí và hình thành các khu nhà ở tự phát thiếu thốn tiện nghi. Sự phân tách không gian giữa các khu đô thị khép kín cao cấp và các khu nhà trọ chật chội của lao động nhập cư làm sâu sắc thêm tình trạng bất bình đẳng xã hội.
Những vấn đề trên đòi hỏi các nhà quy hoạch và quản lý đô thị không thể nhìn nhận dân cư đô thị như một con số thống kê tĩnh, mà phải tiếp cận như một hệ thống động lực phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa quy hoạch không gian nén, đầu tư hạ tầng giao thông công cộng và các chính sách an sinh xã hội bao trùm.