Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Đau sau mổ là gì? Các công bố khoa học về Đau sau mổ

Tiếng AnhPostoperative pain

Đau sau mổ là phản ứng cảm giác và cảm xúc khó chịu xuất hiện sau phẫu thuật do tổn thương mô học trực tiếp, viêm cục bộ và sự kích thích các thụ thể cảm thụ đau.

356 lượt xem Cập nhật 10/9/2026

Đau sau mổ (Postoperative pain) là phản ứng cảm giác và cảm xúc khó chịu xuất hiện sau phẫu thuật do tổn thương mô học trực tiếp, viêm cục bộ và sự kích thích các thụ thể cảm thụ đau.. Đau sau mổ là

Đau sau mổ, còn được gọi là đau sau phẫu thuật, là một loại đau mà người bệnh có thể trải qua sau khi điều trị bằng phẫu thuật. Đau sau mổ thường xảy ra do một số nguyên nhân như: tổn thương mô mềm, viêm nhiễm, căng thẳng cơ, nhiễm khuẩn, hoặc do tác động của quá trình phẫu thuật. Triệu chứng của đau sau mổ có thể bao gồm đau, sưng, đỏ, hạn chế chức năng và cảm giác khó chịu trong khu vực phẫu thuật. Để giảm đau sau mổ, bác sĩ thường sẽ kê đơn thuốc giảm đau hoặc kháng viêm, chỉ định các biện pháp điều trị không dùng thuốc hoặc tiến hành các biện pháp chăm sóc phẫu thuật. Đau sau mổ là một tình trạng phổ biến và thường xảy ra sau các phẫu thuật lớn hoặc những quá trình can thiệp không nhỏ. Nguyên nhân chính của đau sau mổ bao gồm:

1. Tổn thương mô mềm: Trong quá trình phẫu thuật, các mô và cơ xung quanh khu vực phẫu thuật bị tác động, cắt, nạo, kéo dãn hoặc chấn thương. Đây là nguyên nhân chính gây đau sau mổ. Tổn thương mô mềm làm kích thích các dây thần kinh, mô bên trong hoặc sự bài tiết của các chất viêm trong cơ thể, gây ra cảm giác đau.

2. Viêm nhiễm: Bất kỳ quá trình phẫu thuật nào cũng có thể gây ra một mức độ viêm nhiễm. Các vi khuẩn hoặc mầm bệnh khác có thể xâm nhập qua vết mổ và gây ra viêm nhiễm trong khu vực phẫu thuật. Viêm nhiễm có thể gây đau, sưng, sưng nóng, đỏ và tiếp tục bốc hơi và có thể yêu cầu sự can thiệp y tế với kháng sinh để điều trị.

3. Căng thẳng cơ: Trong quá trình phẫu thuật, các cơ xung quanh vị trí phẫu thuật có thể bị căng thẳng hoặc bị tổn thương. Điều này có thể làm cho cơ bị hiểu lạc và gây ra đau sau mổ.

Các triệu chứng của đau sau mổ có thể bao gồm:

1. Đau: Đau có thể kéo dài hoặc nhấp nháy và diễn ra trong thời gian dài sau phẫu thuật. Đau có thể là ở mức độ nhẹ đến nghiêm trọng và có thể thay đổi theo thời gian thông qua quá trình phục hồi.

2. Sưng: Khu vực phẫu thuật có thể sưng do một số nguyên nhân như viêm nhiễm hoặc mất nước.

3. Đỏ: Một sự đỏ và viêm có thể xảy ra xung quanh vết mổ. Đây là một dấu hiệu của phản ứng viêm.

4. Hạn chế chức năng: Đau và sưng có thể làm hạn chế khả năng di chuyển và sử dụng khu vực bị ảnh hưởng, làm hại đến chức năng hằng ngày.

5. Cảm giác khó chịu: Ngoài cảm giác đau thì những triệu chứng như ngứa, chiết xuất hoặc nhạy cảm có thể xảy ra trong khu vực phẫu thuật.

Để giảm đau sau mổ, bác sĩ thường sẽ kê đơn thuốc giảm đau, chẳng hạn như paracetamol, aspirin hoặc các loại thuốc chống viêm không steroid. Các biện pháp không dùng thuốc bao gồm đặt nhiệt lên khu vực đau, làm giảm quá trình viêm và tư vấn về chiến lược quản lý đau. Các biện pháp chăm sóc phẫu thuật bao gồm làm sạch và băng bó vết mổ, đảm bảo vùng bị ảnh hưởng được giữ khô ráo và sử dụng các phương pháp điều trị tác động như vật lý trị liệu và liệu pháp điện từ.

Câu hỏi thường gặp

Chiến lược giảm đau đa mô thức trong đau sau mổ kết hợp những nhóm thuốc nào?

Kết hợp paracetamol, NSAID/chọn lọc COX-2, gabapentinoid, ketamine liều thấp, gây tê vùng hoặc tê ngoài màng cứng nhằm tác động vào nhiều thụ thể khác nhau và giảm thiểu liều opioid.

Hệ thống giảm đau do bệnh nhân tự kiểm soát (PCA) vận hành theo cơ chế an toàn nào?

Máy bơm điện tử cho phép bệnh nhân bấm nút tiêm một liều nhỏ opioid theo nhu cầu cá nhân, đi kèm khoảng thời gian khóa an toàn để ngăn ngừa tình trạng quá liều và ức chế hô hấp.

Mô hình Phục hồi sớm sau phẫu thuật (ERAS) tiếp cận kiểm soát đau sau phẫu thuật ra sao?

Tối ưu hóa giảm đau không opioid, phối hợp gây tê thần kinh ngoại vi để bệnh nhân hồi phục vận động sớm trong ngày đầu sau mổ, giảm biến chứng thuyên tắc huyết khối và rút ngắn số ngày nằm viện.

Các nghiên cứu khoa học về “Đau sau mổ”

Công bố nổi bật trên thế giới và tại Việt Nam, kèm tóm tắt theo hướng chủ đề.

Mới nhất

  • Đánh giá hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật cắt dạ dày nội soi của gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng dưới hướng dẫn siêu âm

    Trần Minh Long và cộng sự2026Tạp chí Nghiên cứu Y học

    AI tóm tắt

    Mô tả lâm sàng trên 60 người bệnh phẫu thuật cắt dạ dày nội soi tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An đánh giá gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng hai bên bằng levo-bupivacain 0,25%. Điểm VAS đau sau mổ trong 24 giờ đầu duy trì mức 3-4 điểm khi nghỉ và 4-5 điểm khi vận động, với tổng liều morphin trung bình là 19,75 ± 7,23 mg. Nhóm nghiên cứu nhận định gây tê thành bụng là thành tố an toàn và hiệu quả trong phác đồ giảm đau đa mô thức.

  • Hiệu quả giảm đau sau mổ cắt túi mật nội soi của phương pháp gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng chếch dưới sườn hai bên

    Trần Việt Đức và cộng sự2026Tạp chí Nghiên cứu Y học

    AI tóm tắt

    Thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên trên 70 người bệnh cắt túi mật nội soi so sánh hiệu quả giảm đau sau mổ giữa gây tê cơ ngang bụng chếch dưới sườn hai bên và gây tê lỗ trocar. Kết quả cho thấy nhóm phong bế cơ ngang bụng đạt điểm đau NRS thấp hơn rõ rệt, kéo dài thời gian yêu cầu morphin đầu lên 192 phút so với 102 phút ở nhóm chứng (p < 0,001). Nhóm tác giả nhận định kỹ thuật mang lại khả năng hồi tỉnh nhanh và an toàn sau phẫu thuật nội soi.

  • ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA PHƯƠNG PHÁP PHONG BẾ THẦN KINH Ở MẶT PHẲNG CƠ NGANG BỤNG SAU MỔ LẤY THAI

    Ngô Thị Thúy và cộng sự2025Tạp Chí Khoa học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng

    AI tóm tắt

    Nghiên cứu có đối chứng trên 99 sản phụ phẫu thuật lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất Đồng Nai đánh giá phương pháp phong bế thần kinh mặt phẳng cơ ngang bụng dưới siêu âm. Nhóm can thiệp có điểm VAS đau sau mổ thấp hơn rõ rệt cả khi nghỉ lẫn vận động trong 16 đến 20 giờ đầu, giúp bệnh nhân vận động sớm hơn 4,5 giờ (p < 0,001) mà không cần thuốc cứu hộ. Tác giả kết luận thủ thuật thúc đẩy phục hồi vận động an toàn cho sản phụ.

  • Ketamine chu phẫu nhằm dự phòng đau chi ma sau cắt cụt ở bệnh nhân thiếu máu cục bộ chi: Nghiên cứu thí điểm

    Dịch bởi AIPerioperative ketamine for preventing phantom limb pain after amputation in patients with limb ischemia: A pilot study

    Nguyen Thi Thu Ha và cộng sự2025Tạp chí Nghiên cứu Y học

    AI tóm tắt

    Khảo sát tiền trạm tiến cứu trên 6 người bệnh cắt cụt chi do thiếu máu cục bộ khảo sát hiệu quả truyền ketamine chu phẫu nhằm ngừa đau chi ma và giảm đau sau mổ mỏm cụt. Điểm đau trên thang VAS tại mỏm cụt giảm dần từ mức trung vị 2,5 ở ngày đầu xuống còn 2,0 vào ngày thứ 5 mà không cần dùng thêm morphin giải cứu. Tác giả nhận định truyền ketamine có tiềm năng hạn chế đau mỏm cụt cấp tính nhưng cần nghiên cứu cỡ mẫu lớn hơn.

Trích dẫn nhiều nhất

  • So sánh Ketorolac Tromethamine tiêm bắp và Morphine Sulfate trong giảm đau sau phẫu thuật lớn

    Dịch bởi AIComparison of Intramuscular Ketorolac Tromethamine and Morphine Sulfate for Analgesia of Pain After Major Surgery

    James Yee và cộng sự1986Pharmacotherapy213 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Thử nghiệm mù đôi trên 241 bệnh nhân phẫu thuật lớn so sánh hiệu quả giảm đau sau mổ giữa ketorolac tromethamine tiêm bắp và morphine sulfate. Liều ketorolac 10 mg và 30 mg giúp kiểm soát đau sau phẫu thuật tương đương liều morphine 12 mg, trong khi liều 90 mg đạt hiệu lực vượt trội suốt 6 giờ theo dõi. Tác giả kết luận ketorolac tiêm bắp là giải pháp thay thế không gây nghiện hiệu quả cho opioid.

  • Đánh giá độ dung nạp và hiệu quả giảm đau của dung dịch paracetamol tiêm tĩnh mạch mới ở trẻ em sau phẫu thuật thoát vị bẹn

    Dịch bởi AITolerance and analgesic efficacy of a new i.v. paracetamol solution in children after inguinal hernia repair

    I. Murat và cộng sự2005Paediatric Anaesthesia115 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Thử nghiệm ngẫu nhiên trên 183 bệnh nhi phẫu thuật thoát vị bẹn đánh giá hiệu quả kiểm soát đau sau mổ của paracetamol truyền tĩnh mạch so với propacetamol. Khi điểm đau vượt mức 30 mm, liều paracetamol 15 mg/kg mang lại hiệu lực giảm đau sau phẫu thuật tương đương propacetamol 30 mg/kg trong 6 giờ đầu. Tác giả ghi nhận công thức tiêm truyền mới đạt độ an toàn cao và dung nạp tốt ở trẻ nhỏ.

  • Hiệu quả của việc châm cứu tại các điểm kích thích cơ xương trong việc ngăn ngừa cơn đau sau phẫu thuật thay khớp gối toàn phần: Một nghiên cứu ngẫu nhiên, đôi mù, có nhóm giả dược

    Dịch bởi AIEfficacy of Myofascial Trigger Point Dry Needling in the Prevention of Pain after Total Knee Arthroplasty: A Randomized, Double-Blinded, Placebo-Controlled Trial

    Orlando Mayoral del Moral và cộng sự2013Evidence-based Complementary and Alternative Medicine96 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Đánh giá can thiệp trên 40 bệnh nhân phẫu thuật thay khớp gối toàn phần mù đôi có đối chứng giả dược nhằm ngừa đau sau mổ bằng châm kim khô điểm kích hoạt cơ xương. Thủ thuật châm kim dưới gây mê giúp giảm đáng kể cường độ đau sau phẫu thuật trên thang đo VAS trong tháng đầu và giảm nhu cầu dùng thuốc giảm đau cấp. Tác giả ghi nhận hiệu quả vượt trội trong giai đoạn đau cấp tính nhưng khác biệt giảm sau 3 tháng.

  • Hiệu quả của dexmedetomidine kết hợp với sufentanil trong giảm đau đường tĩnh mạch sau mở ngực: nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng

    Dịch bởi AIEffect of Dexmedetomidine combined with sufentanil for post- thoracotomy intravenous analgesia:a randomized, controlled clinical study

    Chao Dong và cộng sự2017BMC Anesthesiology37 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trên 97 bệnh nhân mở ngực khảo sát hiệu lực phối hợp dexmedetomidine với sufentanil qua bơm tiêm tự kiểm soát. Phác đồ kết hợp giảm rõ rệt điểm đau sau mổ khi nghỉ ngơi và ho trong 48 giờ hậu phẫu (p < 0,001), đồng thời giảm nhu cầu opioid cứu hộ và giảm buồn nôn. Tác giả kết luận phối hợp dexmedetomidine tối ưu hóa chất lượng kiểm soát đau sau phẫu thuật ngực an toàn.

  • Khối thần kinh ngực định hướng bằng siêu âm I và khối mặt phẳng ngón tay - liên sườn giúp giảm đau sau phẫu thuật cho bệnh nhân thực hiện phẫu thuật cắt bỏ vú đại cải tiến

    Dịch bởi AIUltrasound-Guided Pectoral Nerve Block I and Serratus-Intercostal Plane Block Alleviate Postoperative Pain in Patients Undergoing Modified Radical Mastectomy

    Wei Wang và cộng sự2019Pain Physician29 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Nghiên cứu can thiệp tiến cứu ngẫu nhiên trên 61 phụ nữ phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn cải tiến nhằm đánh giá vai trò phong bế thần kinh ngực I phối hợp mặt phẳng ngón tay - liên sườn. Kỹ thuật phong bế này làm giảm đáng kể điểm VAS đau sau mổ, rút ngắn thời gian hồi tỉnh và giảm lượng opioid tiêu thụ. Tác giả đề xuất phối hợp hai mặt phẳng là giải pháp giảm đau sau phẫu thuật vú hiệu quả và an toàn.

Nổi bật tại Việt Nam

Mới nhất tại Việt Nam

Tài liệu tham khảo

  1. Herrero Cano (2018). 07 / MULTIMODAL OPIOID-SPARING ANALGESIA PROTOCOL IN AN ERAS PROGRAM: OUR OUTCOMES.. Morressier. DOI: 10.26226/morressier.5aeb0acc07b0d6001a79ac20
  2. Sunand, Peddinti (2026). Effectiveness of Multimodal Analgesia versus Opioid-Based Analgesia in Postoperative Pain Management. Acta Medica International. DOI: 10.21276/amit.2026.v13.i2.643
  3. Glaser (2022). Postoperative opioid sparing analgesia. The ERAS® Society Handbook for Obstetrics &amp; Gynecology. DOI: 10.1016/b978-0-323-91208-2.00017-2