Từ điển học thuật Khoa học xã hội

Đông Nam Bộ là gì? Địa lý, kinh tế và phạm vi phát triển

Tiếng AnhSoutheast region

Tên gọi khácmiền Đông Nam BộĐông Nam phần

Đông Nam Bộ là một vùng địa lý và kinh tế - xã hội chiến lược của Việt Nam, gồm 6 đơn vị hành chính cấp tỉnh trực thuộc Trung ương: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh và Bình Phước.

236 lượt xem Cập nhật 8/10/2026

Đông Nam Bộ (tiếng Anh: Southeast region), còn được gọi trong lịch sử và địa lý là miền Đông Nam Bộ hoặc Đông Nam phần, là một vùng địa lý và kinh tế - xã hội chiến lược của Việt Nam, nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Về mặt tổ chức hành chính và không gian phát triển, vùng Đông Nam Bộ bao gồm 6 đơn vị hành chính cấp tỉnh trực thuộc Trung ương: Thành phố Hồ Chí Minh (đô thị đặc biệt, trung tâm kinh tế hạt nhân của cả nước), tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tỉnh Tây Ninh và tỉnh Bình Phước. Đây là vùng kinh tế phát triển năng động nhất, đóng vai trò đầu tàu công nghiệp, xuất nhập khẩu, tài chính và logistics quy mô lớn nhất Việt Nam.

Với vị trí cửa ngõ quốc tế và hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ, Đông Nam Bộ là nơi hội tụ mật độ khu công nghiệp, khu chế xuất và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dày đặc nhất quốc gia. Không gian kinh tế của vùng đã vượt qua ranh giới hành chính truyền thống để hình thành một vùng đô thị mở rộng đa cực, kết nối chuỗi cung ứng sản xuất giữa trung tâm dịch vụ tài chính Thành phố Hồ Chí Minh với các vành đai công nghiệp phụ trợ tại Bình Dương, Đồng Nai, cụm công nghiệp cảng biển Bà Rịa – Vũng Tàu cùng vùng nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế cửa khẩu tại Tây Ninh và Bình Phước.

Vị trí địa lý và phạm vi không gian phát triển

Vùng Đông Nam Bộ sở hữu tọa độ địa chính trị và địa kinh tế đặc biệt thuận lợi trên bản đồ khu vực Đông Nam Á. Phía đông và đông nam của vùng tiếp giáp với bờ biển mở rộng ra Biển Đông, sở hữu các luồng hàng hải quốc tế tấp nập; phía bắc và tây bắc tiếp giáp Vương quốc Campuchia với hệ thống cửa khẩu quốc tế đường bộ quan trọng (như Mộc Bài, Xa Mát, Hoa Lư); phía tây nam giáp vùng trũng ngập nước ngọt Đồng bằng sông Cửu Long; và phía đông bắc giáp cao nguyên bazan Tây Nguyên cùng vùng duyên hải Nam Trung Bộ.

Phạm vi hành chính 6 tỉnh, thành phố của vùng Đông Nam Bộ tạo nên một cấu trúc phát triển kinh tế tương hỗ đa tầng:

  • Thành phố Hồ Chí Minh: Đô thị trung tâm giữ vai trò hạt nhân chỉ huy, trung tâm tài chính quốc tế, nghiên cứu khoa học công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực trình độ cao và đầu mối dịch vụ y tế, thương mại của toàn bộ khu vực phía Nam.
  • Bình Dương và Đồng Nai: Hai trụ cột công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phụ trợ và cơ khí chính xác, tiên phong trong mô hình các khu công nghiệp tập trung quy mô lớn, thu hút mạnh mẽ các tập đoàn đa quốc gia.
  • Bà Rịa – Vũng Tàu: Cửa ngõ hướng biển chủ lực của vùng và quốc gia, trung tâm khai thác dầu khí thềm lục địa, công nghiệp nặng (lọc hóa dầu, thép, phân bón), cảng biển nước sâu quốc tế và du lịch nghỉ dưỡng biển.
  • Tây Ninh và Bình Phước: Đóng vai trò là không gian phát triển mở rộng về phía biên giới, trung tâm phát triển cây công nghiệp dài ngày, chế biến nông - lâm sản, năng lượng tái tạo và kết nối hành lang kinh tế xuyên Á sang tiểu vùng sông Mê Kông.

Đặc điểm địa hình, địa mạo và khí hậu sinh thái

Địa hình vùng Đông Nam Bộ mang đặc trưng chuyển tiếp rõ nét từ vùng cao nguyên bậc thang phía bắc xuống vùng trũng đồng bằng ven biển phía nam. Nền địa hình thoải dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây, bao gồm các dạng địa mạo cơ bản: vùng đồi lượn sóng trên nền đá mẹ bazan màu mỡ ở phía bắc và đông bắc, vùng phù sa cổ dạng bậc thềm thung lũng, và vùng đất bãi bồi trũng ven sông, rừng ngập mặn ở hạ lưu các hệ thống sông lớn.

Khí hậu của vùng thuộc đới nhiệt đới gió mùa cận xích đạo điển hình, nền nhiệt độ cao duy trì ổn định quanh năm và không chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông bắc lạnh. Khí hậu phân hóa sâu sắc thành hai mùa tương phản rõ rệt:

  • Mùa mưa: Thường bắt đầu từ giai đoạn giữa năm và kéo dài đến cuối năm, dưới tác động của hoàn lưu gió mùa tây nam mang ẩm từ biển vào. Mùa này tập trung phần lớn lượng mưa của cả năm, cung cấp nguồn nước ngọt dồi dào cho các lưu vực sông và tầng nước ngầm, nhưng cũng đặt ra thách thức về tiêu thoát nước đô thị và ngập úng triều cường.
  • Mùa khô: Kéo dài từ cuối năm trước đến các tháng đầu năm sau, chịu ảnh hưởng của khối khí khô nóng gió mùa đông bắc. Nắng nhiều, bốc hơi mạnh dẫn đến nguy cơ khô hạn, thiếu nước cục bộ cho sản xuất nông nghiệp và làm tăng áp lực xâm nhập mặn sâu vào các cửa sông.

Mạng lưới thủy văn và tài nguyên thiên nhiên

Mạng lưới thủy văn Đông Nam Bộ đóng vai trò huyết mạch trong việc cung cấp nước sinh hoạt, phục vụ sản xuất công nghiệp, phát triển giao thông thủy và điều hòa khí hậu tiểu vùng. Hai hệ thống sông lớn nhất chi phối toàn vùng là lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Sài Gòn, cùng với sông Bé, sông Vàm Cỏ Đông và sông Thị Vải.

Các hồ chứa nhân tạo quy mô lớn được xây dựng trên các lưu vực sông này (như hồ Trị An trên sông Đồng Nai, hồ Dầu Tiếng trên thượng nguồn sông Sài Gòn) không chỉ giữ vai trò phát điện thủy điện mà còn là các công trình thủy lợi điều tiết nguồn nước, phòng chống lũ lụt cho hạ du và đẩy mặn cho các vùng ven biển. Về tài nguyên khoáng sản, thềm lục địa ngoài khơi Bà Rịa – Vũng Tàu sở hữu các mỏ dầu thô và khí đốt tự nhiên có trữ lượng công nghiệp lớn, cung cấp nguồn nhiên liệu cho các tổ hợp nhiệt điện khí và nhà máy phân đạm quy mô quốc gia. Bên cạnh đó, vùng đất đỏ bazan màu mỡ tại Đồng Nai, Bình Phước và đất xám bạc màu trên phù sa cổ là nền tảng hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày có giá trị xuất khẩu cao.

Động lực kinh tế: Công nghiệp chế tạo và dịch vụ hiện đại

Đông Nam Bộ là trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước, chiếm tỷ trọng vượt trội trong giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu toàn quốc. Sự phát triển công nghiệp của vùng diễn ra qua nhiều giai đoạn chuyển dịch chất lượng:

  • Từ công nghiệp thâm dụng lao động sang công nghệ cao: Trong các giai đoạn đầu, các ngành dệt may, da giày, chế biến gỗ phát triển mạnh mẽ để tận dụng nguồn lao động. Trong tiến trình nâng cấp chuỗi giá trị, cơ cấu công nghiệp đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các phân ngành có giá trị gia tăng cao hơn như công nghiệp điện tử, viễn thông, thiết bị bán dẫn, cơ khí tự động hóa và dược phẩm sinh học.
  • Hình thành các cụm liên kết ngành (Cluster): Các khu công nghiệp tập trung tại Bình Dương, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng theo hướng tích hợp hạ tầng kỹ thuật hiện đại, tạo thành các cụm liên kết sản xuất khép kín giữa các doanh nghiệp phụ trợ và các nhà máy lắp ráp hoàn thiện.
  • Khu vực dịch vụ chất lượng cao: Dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các phân ngành dịch vụ mũi nhọn bao gồm dịch vụ tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, logistics quốc tế, thương mại điện tử, dịch vụ tư vấn pháp lý - công nghệ và du lịch hội nghị (MICE).

Hạ tầng giao thông đa phương thức và logistics quốc tế

Hạ tầng giao thông của vùng Đông Nam Bộ phát triển toàn diện bậc nhất cả nước với đầy đủ các phương thức vận tải: đường bộ, đường thủy nội địa, đường biển, đường hàng không và đường sắt kết nối:

  • Hàng hải quốc tế: Cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) là một trong những cụm cảng nước sâu hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á, có khả năng tiếp nhận các tàu mẹ container trọng tải siêu lớn đi thẳng sang châu Âu và Bắc Mỹ mà không phải trung chuyển qua các nước thứ ba. Cảng Cát Lái (Thành phố Hồ Chí Minh) giữ vai trò cảng gom hàng container xuất nhập khẩu nội địa nhộn nhịp nhất cả nước.
  • Hàng không dân dụng: Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là cửa ngõ hàng không có lưu lượng hành khách và hàng hóa lớn nhất Việt Nam. Cùng với đó, dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành (Đồng Nai) đang được triển khai xây dựng với định hướng trở thành trung tâm trung chuyển hàng không tầm cỡ khu vực châu Á.
  • Mạng lưới đường bộ cao tốc và vành đai: Các tuyến cao tốc huyết mạch như Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, Bến Lức – Long Thành, Biên Hòa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh – Chơn Thành cùng các tuyến đường vành đai liên vùng đang từng bước khép kín không gian đô thị và rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa giữa các khu công nghiệp với các cảng biển.

Dân cư, đô thị hóa và thách thức phát triển bền vững

Đông Nam Bộ có mật độ dân số cao và tỷ lệ đô thị hóa dẫn đầu cả nước. Dân cư vùng là sự hòa nhập đa dạng của cộng đồng các dân tộc, trong đó người Kinh chiếm đa số, cùng các dân tộc thiểu số như Hoa, Chăm, Khmer, Chơro, S’tiêng. Nhờ sức hút kinh tế vượt trội, vùng tiếp nhận lượng lớn lao động nhập cư từ khắp các tỉnh thành trong cả nước, tạo nên một thị trường lao động dồi dào, trẻ trung và năng động. Đồng thời, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đô thị hóa vùng ven cũng thúc đẩy các chiến lược thích ứng linh hoạt trong việc sử dụng đất đai và đa dạng hóa sinh kế của cộng đồng cư dân địa phương tại các khu vực chuyển tiếp giữa nông thôn và đô thị.

Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh chóng và tập trung công nghiệp mật độ cao cũng đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng đối với vùng Đông Nam Bộ:

  • Áp lực hạ tầng xã hội và đô thị: Tình trạng quá tải hệ thống giao thông dẫn đến ùn tắc kéo dài, quá tải cơ sở y tế, trường học và nhà ở công nhân tại các đô thị lớn.
  • Ô nhiễm môi trường sinh thái: Nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt tại các lưu vực sông Sài Gòn, sông Đồng Nai do chất thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt; ô nhiễm không khí đô thị và vấn đề xử lý chất thải rắn công nghiệp nguy hại.
  • Tác động của biến đổi khí hậu: Hiện tượng triều cường dâng cao kết hợp với sụt lún nền đất tại Thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực ven biển đặt ra yêu cầu cấp bách về quy hoạch hạ tầng thích ứng và quản lý rủi ro thiên tai.

Để duy trì vị thế đầu tàu kinh tế, vùng Đông Nam Bộ đang đẩy mạnh liên kết thể chế vùng, tái cơ cấu mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, bảo đảm phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường.

Câu hỏi thường gặp

Vùng Đông Nam Bộ bao gồm những tỉnh và thành phố nào?

Vùng Đông Nam Bộ bao gồm 6 đơn vị hành chính cấp tỉnh trực thuộc Trung ương gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tỉnh Tây Ninh và tỉnh Bình Phước.

Những ngành kinh tế mũi nhọn nào tạo nên thế mạnh của Đông Nam Bộ?

Thế mạnh kinh tế của Đông Nam Bộ tập trung vào công nghiệp chế biến chế tạo, điện tử, hóa chất, dịch vụ tài chính ngân hàng, thương mại quốc tế và hệ thống cảng biển logistics nước sâu.

Hệ thống cảng biển nào giữ vai trò cửa ngõ hàng hải quốc tế của vùng Đông Nam Bộ?

Cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) là cửa ngõ hàng hải quốc tế tiếp nhận tàu container đi thẳng châu Âu và Bắc Mỹ, kết hợp cùng cảng Cát Lái (Thành phố Hồ Chí Minh) phục vụ vận tải nội địa và xuất nhập khẩu.

Tài liệu tham khảo

  1. Kontgis, C., Schneider, A., Fox, J., Saksena, S., Spencer, J. H., & Castrence, M. (2014). Monitoring peri-urbanization in the greater Ho Chi Minh City metropolitan area. Applied Geography, 53, 377–388. DOI: 10.1016/j.apgeog.2014.06.029
  2. Huynh, D. (2015). The misuse of urban planning in Ho Chi Minh City. Habitat International, 48, 11–19. DOI: 10.1016/j.habitatint.2015.03.007
  3. Nguyen, Q., & Kim, D.-C. (2019). Farmers’ landholding strategy in urban fringe areas: A case study of a transitional commune near Ho Chi Minh City, Vietnam. Land Use Policy, 83, 95–104. DOI: 10.1016/j.landusepol.2019.01.038