Từ điển học thuật Khoa học xã hội

Thâm hụt ngân sách là gì? Phân loại, tác động và đo lường

Tiếng Anhbudget deficit

Tên gọi khácbội chi ngân sáchthâm hụt tài khóa

Thâm hụt ngân sách là tình trạng tài chính xảy ra khi tổng các khoản chi tiêu của chính phủ vượt quá tổng các khoản thu ngân sách không bao gồm các khoản đi vay trong một niên độ tài chính xác định.

Cập nhật 1/9/2026

Thâm hụt ngân sách là tình trạng tài chính xảy ra khi tổng các khoản chi tiêu của chính phủ vượt quá tổng các khoản thu ngân sách không bao gồm các khoản đi vay trong một niên độ tài chính xác định. Hiện tượng này phản ánh sự mất cân đối tạm thời hoặc mang tính cơ cấu giữa nguồn lực huy động từ thuế, phí và nhu cầu chi tiêu công cho phát triển kinh tế xã hội. Bài viết này trình bày chi tiết về các khái niệm phân loại thâm hụt, công thức xác định, nguyên nhân phát sinh, các cơ chế tài trợ, tác động kinh tế vĩ mô, các trường phái lý thuyết tài khóa lớn và khung pháp lý điều chỉnh tại Việt Nam.

Bản chất và các phương pháp đo lường thâm hụt ngân sách

Trong kinh tế học vĩ mô và tài chính công, việc đo lường quy mô mất cân đối ngân sách đòi hỏi sự phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm thâm hụt khác nhau nhằm phục vụ mục tiêu điều hành chính sách tài khóa phù hợp.

1. Thâm hụt cơ bản và thâm hụt tổng thể

Thâm hụt cơ bản (primary deficit) phản ánh mức chênh lệch giữa các khoản chi tiêu của chính phủ cho hàng hóa, dịch vụ, đầu tư công (không bao gồm nghĩa vụ trả lãi nợ vay) và tổng thu ngân sách. Chỉ số này phản ánh tác động trực tiếp của các quyết định chi tiêu và thu thuế trong niên độ hiện tại mà không bị chi phối bởi các khoản nợ tích lũy trong quá khứ.

Công thức xác định thâm hụt cơ bản được biểu diễn dưới dạng:

Dp=GTD_{p} = G - T

Trong công thức trên, DpD_{p} là thâm hụt cơ bản, GG đại diện cho tổng chi tiêu công thường xuyên và chi đầu tư phát triển (không gồm chi trả lãi vay), và TT là tổng nguồn thu ngân sách từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu hợp pháp khác.

Thâm hụt tổng thể (overall fiscal deficit), hay thâm hụt ngân sách toàn phần, bao gồm toàn bộ thâm hụt cơ bản cộng thêm nghĩa vụ chi trả lãi vay cho các khoản nợ công phát sinh từ các thời kỳ trước:

Dt=G+rBT=Dp+rBD_{t} = G + rB - T = D_{p} + rB

Trong đó, DtD_{t} là thâm hụt tổng thể, rr là mức lãi suất danh nghĩa thực tế bình quân áp dụng cho dư nợ công, và BB là quy mô tổng dư nợ chính phủ tại thời điểm đầu kỳ kế toán.

2. Thâm hụt chu kỳ và thâm hụt cơ cấu

Tùy theo nguồn gốc phát sinh trong chu kỳ kinh tế, tổng thâm hụt ngân sách được phân rã thành hai cấu phần chính:

Dtotal=Dcyc+DstrD_{total} = D_{cyc} + D_{str}

Với DtotalD_{total} là tổng thâm hụt ngân sách thực tế phát sinh, DcycD_{cyc} là thâm hụt chu kỳ và DstrD_{str} là thâm hụt cơ cấu.

  • Thâm hụt chu kỳ (cyclical deficit): Là phần thâm hụt phát sinh tự động do nền kinh tế rơi vào giai đoạn suy thoái hoặc tăng trưởng dưới mức tiềm năng. Khi hoạt động sản xuất suy giảm, nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng giảm sút, trong khi các khoản chi trợ cấp an sinh xã hội tăng lên do cơ chế ổn định tự động.
  • Thâm hụt cơ cấu (structural deficit): Là phần thâm hụt vẫn tồn tại ngay cả khi nền kinh tế hoạt động ở mức toàn dụng lao động và đạt mức sản lượng tiềm năng. Thâm hụt cơ cấu phản ánh sự mất cân đối dài hạn bắt nguồn từ chính sách tài khóa chủ động, cơ cấu thuế suất bất hợp lý hoặc các cam kết chi tiêu công mang tính định kỳ cố định.

Nguyên nhân phát sinh thâm hụt ngân sách

Sự hình thành thâm hụt ngân sách là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô, chu kỳ kinh doanh và các quyết định chính sách công:

  • Tác động của chu kỳ suy thoái kinh tế: Khi tăng trưởng kinh tế chững lại, quy mô cơ sở tính thuế thu hẹp dẫn đến thu ngân sách giảm mạnh, trong khi chính phủ buộc phải duy trì hoặc gia tăng chi tiêu hỗ trợ phục hồi.
  • Mở rộng đầu tư cơ sở hạ tầng công cộng: Nhu cầu vốn lớn cho các dự án giao thông, năng lượng, giáo dục và y tế thường vượt quá khả năng tích lũy thu thường xuyên, đòi hỏi chính phủ phải chấp nhận thâm hụt để tạo đòn bẩy phát triển dài hạn.
  • Chính sách tài khóa mở rộng có chủ đích: Việc thực thi chính sách giảm thuế kết hợp với tăng cường chi tiêu công nhằm kích thích tổng cầu và tạo việc làm trong các giai đoạn khủng hoảng.
  • Cú sốc ngoại sinh và tình huống khẩn cấp: Thiên tai quy mô lớn, dịch bệnh toàn cầu hoặc biến động địa chính trị làm phát sinh chi phí y tế khẩn cấp, cứu trợ xã hội và an ninh quốc phòng đột biến.
  • Thất thoát nguồn thu và chi tiêu kém hiệu quả: Tình trạng trốn lậu thuế, khu vực kinh tế phi chính thức lớn cùng với việc phân bổ nguồn vốn đầu tư công dàn trải, lãng phí làm gia tăng gánh nặng thâm hụt.

Các phương thức tài trợ thâm hụt ngân sách

Chính phủ có thể lựa chọn nhiều kênh tài trợ khác nhau để bù đắp khoảng trống ngân sách, mỗi phương thức đều có những ưu điểm và rủi ro kinh tế riêng:

Phương thức tài trợ Cơ chế thực hiện Tác động và rủi ro kinh tế
Phát hành trái phiếu chính phủ trong nước Vay nợ từ khu vực tư nhân, các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính nội địa Không làm tăng cung tiền ngay lập tức nhưng có thể gây hiệu ứng chèn ép (crowding-out), đẩy lãi suất thị trường lên cao và giảm đầu tư tư nhân
Vay nợ nước ngoài và vốn ODA Ký kết hiệp định vay từ các định chế tài chính quốc tế hoặc phát hành trái phiếu quốc tế Bổ sung nguồn ngoại tệ cho dự trữ quốc gia nhưng làm gia tăng rủi ro tỷ giá hối đoái và nghĩa vụ trả nợ ngoại bảng khi đồng nội tệ mất giá
Phát hành tiền (tiền tệ hóa thâm hụt) Ngân hàng trung ương mua trực tiếp nợ của chính phủ để tài trợ chi tiêu Làm tăng mạnh cơ sở tiền tệ và cung tiền lưu thông, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát lạm phát cao hoặc siêu lạm phát
Sử dụng quỹ dự trữ và thoái vốn nhà nước Trích quỹ dự trữ tài chính hoặc bán cổ phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Không làm tăng nợ công nhưng nguồn lực có hạn và chỉ áp dụng được như giải pháp tình thế ngắn hạn

Các trường phái lý thuyết kinh tế về thâm hụt ngân sách

Tác động của thâm hụt ngân sách đối với nền kinh tế là một trong những chủ đề tranh luận học thuật sâu sắc nhất trong lịch sử kinh tế học hiện đại.

1. Quan điểm trường phái Keynes

Trường phái kinh tế học Keynes cho rằng trong điều kiện suy thoái và thị trường không tự điều chỉnh về trạng thái toàn dụng, việc chấp nhận thâm hụt ngân sách thông qua chính sách tài khóa nghịch chu kỳ là cần thiết. Chi tiêu chính phủ tăng thêm đóng vai trò như một lực đẩy bổ sung vào tổng cầu, kích hoạt hiệu ứng số nhân chi tiêu và thúc đẩy tăng trưởng sản lượng thực tế.

2. Định đề tương đương Ricardian

Trái ngược với góc nhìn truyền thống, nghiên cứu nền tảng của Barro (1974) đã phát triển Định đề tương đương Ricardian (Ricardian Equivalence Proposition). Barro (1974) chứng minh rằng trong điều kiện thị trường tài chính hoàn hảo và các hộ gia đình có hành vi tiêu dùng tối ưu hóa liên thế hệ, việc chính phủ tài trợ chi tiêu bằng phát hành trái phiếu nợ thay vì tăng thuế hiện hành sẽ không làm thay đổi tổng cầu hay của cải ròng của nền kinh tế. Nguyên nhân là do người tiêu dùng duy lý nhận thức rằng việc phát hành trái phiếu hôm nay đồng nghĩa với nghĩa vụ tăng thuế trong tương lai để chi trả gốc và lãi nợ công, do đó họ sẽ chủ động gia tăng tiết kiệm cá nhân để bù đắp nghĩa vụ thuế tương lai thay vì tăng chi tiêu tiêu dùng.

3. Lý thuyết củng cố tài khóa hiện đại

Nghiên cứu thực nghiệm quy mô lớn của Alesina và Ardagna (2010) khi phân tích các đợt điều chỉnh tài khóa tại các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã làm sáng tỏ hiệu quả của các biện pháp giảm thâm hụt. Kết quả nghiên cứu của Alesina và Ardagna (2010) chỉ ra rằng các nỗ lực củng cố tài khóa dựa trên việc cắt giảm chi tiêu công thường đem lại thành công vượt trội trong việc giảm tỷ lệ nợ công trên GDP và ít gây suy thoái kinh tế hơn đáng kể so với các đợt củng cố tài khóa dựa vào việc tăng thuế. Việc cắt giảm chi tiêu công giúp củng cố niềm tin của giới đầu tư và giảm kỳ vọng về gánh nặng thuế khóa dài hạn.

4. Động thái nợ công và chênh lệch lãi suất tăng trưởng

Nghiên cứu của Blanchard (2019) về nợ công và môi trường lãi suất thấp đã mang lại góc nhìn mới cho việc đánh giá thâm hụt ngân sách. Blanchard (2019) chỉ ra rằng khi mức lãi suất thực tế an toàn của nợ chính phủ thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thực tế, chi phí tài khóa và tổn thất phúc lợi của việc duy trì thâm hụt và nợ công sẽ giảm đi đáng kể do nền kinh tế có khả năng tự giảm tỷ lệ nợ trên sản lượng mà không cần thặng dư tài khóa lớn. Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh các rủi ro bất định nếu lãi suất tăng trở lại hoặc xảy ra các cú sốc tài chính vĩ mô bất ngờ.

Quy định pháp lý và điều hành bội chi ngân sách tại Việt Nam

Tại Việt Nam, thuật ngữ pháp lý chính thức được sử dụng để chỉ thâm hụt ngân sách là bội chi ngân sách nhà nước. Khung khổ pháp lý và mục tiêu điều hành bội chi được quy định chặt chẽ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:

Theo Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/06/2015, tại Điều 4 đã quy định rõ: Bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh. Luật Ngân sách nhà nước quy định nguyên tắc cốt lõi là nguồn vốn vay bù đắp bội chi ngân sách chỉ được phép sử dụng cho mục đích chi đầu tư phát triển, tuyệt đối không được sử dụng để bù đắp các khoản chi thường xuyên.

Trong chiến lược quản lý tài chính trung hạn, Nghị quyết 23/2021/QH15 ngày 28/07/2021 của Quốc hội về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021 - 2025 đã phê chuẩn các chỉ tiêu an toàn tài chính quốc gia cụ thể:

  • Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước bình quân trong toàn giai đoạn 2021 - 2025 được khống chế ở mức khoảng 3,7% GDP.
  • Trong cơ cấu bội chi tổng thể, tỷ lệ bội chi ngân sách trung ương được định hướng ở mức khoảng 3,4% GDP.
  • Tỷ lệ bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được kiểm soát chặt chẽ ở mức khoảng 0,3% GDP.

Việc kiểm soát bội chi theo các ngưỡng chỉ tiêu này giúp Việt Nam duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo các chỉ số an toàn nợ công quốc gia trong giới hạn cho phép và củng cố hệ số tín nhiệm tín dụng trên thị trường tài chính quốc tế.

Hạn chế và điều kiện áp dụng của chính sách chấp nhận thâm hụt

Mặc dù thâm hụt ngân sách có thể được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để kích thích tăng trưởng và đầu tư công, việc áp dụng chính sách này đòi hỏi sự thận trọng và phải đáp ứng các điều kiện ràng buộc:

  • Giới hạn không gian tài khóa: Việc duy trì thâm hụt ngân sách kéo dài mà không đi kèm với lộ trình củng cố tài khóa rõ ràng sẽ dẫn đến tích tụ nợ công mất kiểm soát, làm tăng chi phí vay nợ và giảm xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
  • Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư: Chính sách thâm hụt chỉ phát huy tác dụng tích cực đối với nền kinh tế khi nguồn vốn vay bù đắp được giải ngân vào các dự án hạ tầng trọng điểm có tính lan tỏa kinh tế cao và khả năng sinh lợi xã hội lâu dài.
  • Ràng buộc vĩ mô về lạm phát: Trong bối cảnh áp lực giá cả gia tăng, việc mở rộng thâm hụt ngân sách có thể làm trầm trọng thêm kỳ vọng lạm phát và gây xung đột trực tiếp với chính sách tiền tệ thắt chặt của ngân hàng trung ương.

Câu hỏi thường gặp

Thâm hụt cơ bản khác thâm hụt tổng thể như thế nào?

Thâm hụt cơ bản là mức chênh lệch giữa tổng chi tiêu chính phủ (không bao gồm nghĩa vụ trả lãi nợ công) và tổng thu ngân sách. Trong khi đó, thâm hụt tổng thể bao gồm toàn bộ thâm hụt cơ bản cộng thêm các khoản chi trả lãi vay phát sinh từ các khoản nợ công trong quá khứ.

Định đề tương đương Ricardian giải thích gì về thâm hụt ngân sách?

Nghiên cứu của Barro (1974) chỉ ra rằng việc chính phủ tài trợ chi tiêu bằng nợ vay thay vì thu thuế tức thời không làm thay đổi tổng cầu của nền kinh tế, bởi người dân nhận thức được nghĩa vụ thuế sẽ tăng trong tương lai để trả nợ nên sẽ tăng tiết kiệm tương ứng để bù đắp.

Mục tiêu bội chi ngân sách nhà nước của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 là bao nhiêu?

Theo Nghị quyết 23/2021/QH15 của Quốc hội, tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2025 được định hướng bình quân khoảng 3,7% GDP, trong đó bội chi ngân sách trung ương chiếm khoảng 3,4% GDP và bội chi ngân sách địa phương khoảng 0,3% GDP.

Tài liệu tham khảo

  1. Quốc hội (2015). Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/06/2015. Nguồn
  2. Quốc hội (2021). Nghị quyết số 23/2021/QH15 ngày 28/07/2021 về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021 - 2025. Nguồn
  3. Barro, R. J. (1974). Are Government Bonds Net Wealth? Journal of Political Economy, 82(6), 1095-1117. DOI: 10.1086/260266
  4. Alesina, A., & Ardagna, S. (2010). Large Changes in Fiscal Policy: Taxes versus Spending. Tax Policy and the Economy, 24(1), 35-68. DOI: 10.1086/649828
  5. Blanchard, O. (2019). Public Debt and Low Interest Rates. American Economic Review, 109(4), 1197-1229. DOI: 10.1257/aer.109.4.1197