Từ điển học thuật Khoa học xã hội

Tỉnh đắk lắk là gì? Các công bố khoa học về Tỉnh đắk lắk

Tiếng AnhDak Lak province

Tỉnh Đắk Lắk là đơn vị hành chính cấp tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên của Việt Nam, giữ vị trí trung tâm chiến lược về địa kinh tế, đa dạng sinh học và phát triển nông nghiệp hàng hóa nhiệt đới.

353 lượt xem Cập nhật 5/9/2026

tỉnh đắk lắk (Dak Lak province) là là đơn vị hành chính cấp tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên của Việt Nam, giữ vị trí trung tâm chiến lược về địa kinh tế, đa dạng sinh học và phát triển nông nghiệp hàng hóa nhiệt đới.

Khái quát chung về tỉnh Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk là một đơn vị hành chính cấp tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên của Việt Nam, có diện tích khoảng 13.125 km², đứng thứ 4 cả nước về mặt diện tích. Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2023 ước đạt hơn 1,88 triệu người, sinh sống phân bố không đều tại 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện.

Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh, đồng thời cũng là đô thị loại I trực thuộc tỉnh, được định hướng phát triển thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên. Đắk Lắk giáp với các tỉnh Gia Lai, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắk Nông và có đường biên giới dài 73 km tiếp giáp Vương quốc Campuchia.

Tỉnh Đắk Lắk có vai trò chiến lược trong khu vực do vị trí trung tâm kết nối các trục Đông – Tây, Nam – Bắc qua cao nguyên. Đây cũng là vùng có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp, năng lượng tái tạo, đa dạng sinh học và bảo tồn văn hóa bản địa. Thông tin chính thức được cập nhật tại Cổng thông tin điện tử tỉnh Đắk Lắk.

Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên

Đắk Lắk nằm ở trung độ của vùng Tây Nguyên, trong tọa độ khoảng từ 12°9′ đến 13°25′ vĩ độ Bắc và từ 107°28′ đến 108°59′ kinh độ Đông. Địa hình chủ yếu là cao nguyên bazan bằng phẳng, xen kẽ các dãy núi thấp và thung lũng, với độ cao trung bình từ 400–800 mét so với mực nước biển. Địa chất chủ yếu là đất bazan đỏ nâu (Ferralsols), rất phù hợp cho trồng cây công nghiệp lâu năm.

Khí hậu Đắk Lắk thuộc kiểu cận xích đạo gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt:

  • Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 1.800–2.000 mm/năm
  • Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, độ ẩm thấp, nắng nhiều
Nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 23–25°C, ít biến động, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và sinh sống.

Tỉnh có hệ thống sông hồ và tài nguyên nước mặt phong phú với các sông lớn như Sêrêpôk, Krông Ana, Krông Nô. Đây là nguồn cung nước cho thủy lợi, thủy điện và sinh hoạt. Ngoài ra, các khu rừng đặc dụng như Vườn quốc gia Yok Đôn đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ hệ sinh thái và điều tiết khí hậu vùng.

Yếu tố tự nhiên Đặc điểm chính
Địa hình Cao nguyên bazan, xen kẽ đồi núi thấp
Khí hậu Cận xích đạo gió mùa, 2 mùa rõ rệt
Đất đai Chủ yếu là đất bazan, giàu dinh dưỡng
Tài nguyên nước Hệ thống sông Sêrêpôk và phụ lưu phong phú

Lịch sử hình thành và phát triển

Đắk Lắk có lịch sử cư trú lâu đời của các tộc người bản địa như Ê Đê, M’nông, Gia Rai. Các nền văn hóa tiền sử từng hiện diện trên vùng đất này, để lại dấu tích khảo cổ như đồ đá, rìu tay và công cụ nông nghiệp thô sơ. Trong thời kỳ phong kiến, Đắk Lắk thuộc phạm vi ảnh hưởng của các tiểu quốc Tây Nguyên có mối liên hệ lỏng lẻo với triều đình Huế.

Thời Pháp thuộc, vùng này được đặt dưới quyền quản lý của chính quyền bảo hộ và gọi là "Pays Moïs" (vùng của người thiểu số). Năm 1904, tỉnh Đắk Lắk được thành lập với thủ phủ đặt tại Buôn Ma Thuột. Đây là điểm khởi đầu cho quá trình chính danh hóa hành chính tại khu vực. Giai đoạn kháng chiến, Đắk Lắk là căn cứ địa quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Sau năm 1975, Đắk Lắk tiếp tục đóng vai trò trung tâm chính trị – quân sự của Tây Nguyên. Đến năm 2004, tỉnh Đắk Nông được tách ra từ phần phía nam Đắk Lắk, đánh dấu sự điều chỉnh hành chính nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển vùng. Hiện nay, Đắk Lắk đang từng bước hội nhập, hiện đại hóa và định vị vai trò trung tâm vùng.

Dân cư và cấu trúc dân tộc

Tính đến năm 2023, dân số tỉnh Đắk Lắk đạt xấp xỉ 1,88 triệu người, với mật độ trung bình khoảng 143 người/km². Trong đó, người Kinh chiếm đa số (khoảng 65%), còn lại là các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M’nông, Tày, Nùng, Thái, Hoa, Gia Rai... Các cộng đồng này phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, vùng sâu và vùng biên giới.

Đặc điểm nổi bật là sự hiện diện của các tộc người bản địa Tây Nguyên có hệ thống văn hóa độc đáo, tổ chức xã hội mẫu hệ (Ê Đê, M’nông), truyền thống nhà dài, luật tục và lễ nghi mang tính cộng đồng cao. Âm nhạc cồng chiêng, nghệ thuật kể Khan, rượu cần, lễ hội cúng bến nước... là những biểu hiện điển hình của nền văn hóa phi vật thể đặc sắc.

Tỉnh đang triển khai nhiều chương trình hỗ trợ dân tộc thiểu số như chính sách 135, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, cấp đất sản xuất và xây dựng hạ tầng vùng đồng bào dân tộc. Đồng thời, các sáng kiến bảo tồn di sản văn hóa đang được tích cực thúc đẩy thông qua hợp tác với UNESCO và các tổ chức nghiên cứu trong nước.

Kinh tế và các ngành chủ lực

Nền kinh tế tỉnh Đắk Lắk chủ yếu dựa vào nông – lâm nghiệp, trong đó nông nghiệp đóng vai trò trụ cột với các loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, hồ tiêu, điều và cây ăn quả. Diện tích cà phê toàn tỉnh đạt hơn 210.000 ha, chiếm khoảng 30% sản lượng cà phê cả nước. Cà phê Buôn Ma Thuột đã được cấp chỉ dẫn địa lý và có thương hiệu quốc tế.

Ngoài nông nghiệp, Đắk Lắk đang dần chuyển dịch cơ cấu sang công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo và dịch vụ du lịch. Một số ngành công nghiệp chủ lực gồm:

  • Chế biến nông sản (cà phê, tiêu, cao su, mía đường)
  • Chế biến gỗ và lâm sản
  • Điện mặt trời và điện gió

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, GRDP năm 2022 của tỉnh ước đạt 85.326 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8,98%, cao hơn mức trung bình quốc gia. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa bền vững, ưu tiên công nghệ cao và nông nghiệp xanh. Xem thêm tại Tổng cục Thống kê Việt Nam.

Giáo dục và nghiên cứu khoa học

Hệ thống giáo dục của tỉnh Đắk Lắk tương đối phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục phổ thông và đào tạo nghề. Toàn tỉnh có hơn 800 trường học các cấp, với hơn 500.000 học sinh và hàng chục nghìn giáo viên. Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp đạt trên 97%, tuy nhiên còn tồn tại sự chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn, vùng sâu vùng xa.

Trên địa bàn tỉnh có một số cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng trọng điểm như:

  • Trường Đại học Tây Nguyên – đào tạo đa ngành, có thế mạnh về nông lâm nghiệp và y dược
  • Trường Đại học Buôn Ma Thuột – chuyên sâu về khối ngành y tế
  • Các cơ sở nghiên cứu trực thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Hoạt động nghiên cứu khoa học chủ yếu tập trung vào cải tiến giống cây trồng, ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, bảo tồn tài nguyên bản địa và phát triển y học cộng đồng. Tỉnh đang triển khai đề án chuyển đổi số giáo dục nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy và đào tạo trực tuyến trong giai đoạn hậu đại dịch.

Văn hóa và di sản phi vật thể

Đắk Lắk là một trong những trung tâm văn hóa lớn của khu vực Tây Nguyên, nổi bật với sự đa dạng về phong tục, ngôn ngữ và tín ngưỡng dân gian của hơn 40 dân tộc. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – trong đó Đắk Lắk đóng vai trò trung tâm – đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại từ năm 2005.

Ngoài cồng chiêng, tỉnh còn có các di sản văn hóa đặc trưng như:

  • Lễ hội đua voi tại Buôn Đôn
  • Lễ cúng bến nước, lễ bỏ mả của người Ê Đê và M’nông
  • Kiến trúc nhà dài, luật tục mẫu hệ
  • Âm nhạc dân gian, nghệ thuật kể Khan, dân ca Ê Đê

Chính quyền tỉnh phối hợp với Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch và các tổ chức quốc tế trong công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể, thông qua việc số hóa tư liệu, tổ chức lễ hội truyền thống và đưa di sản vào giáo dục cộng đồng. Tham khảo tại UNESCO Intangible Cultural Heritage.

Du lịch và tiềm năng phát triển

Du lịch Đắk Lắk đang dần khẳng định vai trò trong nền kinh tế dịch vụ với định hướng phát triển bền vững, dựa trên khai thác tiềm năng văn hóa và sinh thái. Các điểm du lịch nổi bật bao gồm:

  • Thác Dray Nur, Dray Sap, Gia Long
  • Hồ Lắk – hồ nước ngọt tự nhiên lớn thứ hai miền Trung
  • Vườn quốc gia Yok Đôn – bảo tồn hệ động thực vật quý hiếm
  • Bảo tàng Thế giới Cà phê – điểm đến du lịch văn hóa đương đại

Tỉnh Đắk Lắk đặt mục tiêu đón hơn 1,5 triệu lượt khách mỗi năm đến 2025, với định hướng "du lịch xanh – cộng đồng – bản sắc". Các sản phẩm du lịch đặc trưng đang được phát triển gồm:

  1. Du lịch trải nghiệm buôn làng
  2. Du lịch sinh thái gắn với bảo tồn rừng
  3. Du lịch nông nghiệp và cà phê

Cơ sở hạ tầng du lịch như giao thông, lưu trú, thông tin du lịch đang được đầu tư mở rộng, song vẫn cần cải thiện về quản lý chất lượng dịch vụ, đào tạo nhân lực và quảng bá thương hiệu. Chiến lược du lịch quốc gia được cập nhật tại Tổng cục Du lịch Việt Nam.

Môi trường và tài nguyên thiên nhiên

Đắk Lắk sở hữu hệ sinh thái rừng tự nhiên đa dạng với tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp gần 600.000 ha, chiếm hơn 45% diện tích toàn tỉnh. Vườn quốc gia Yok Đôn – rộng 115.000 ha – là một trong những khu bảo tồn lớn nhất Việt Nam, nơi sinh sống của nhiều loài quý hiếm như voi châu Á, bò tót, hổ Đông Dương, và gỗ quý như căm xe, gõ đỏ.

Tài nguyên đất đai phong phú với hơn 450.000 ha đất bazan thích hợp cho nông nghiệp công nghệ cao. Tài nguyên nước mặt và nước ngầm dồi dào, tuy nhiên đang chịu áp lực khai thác quá mức, nhất là vào mùa khô. Một số dự án điện mặt trời và điện gió đã được triển khai nhằm thay thế năng lượng hóa thạch, giảm áp lực lên môi trường.

Tuy vậy, tỉnh cũng đối mặt với các vấn đề môi trường nghiêm trọng như mất rừng, cháy rừng, suy giảm đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu. Các báo cáo gần đây từ World Bank Vietnam khuyến nghị xây dựng chiến lược quản lý tài nguyên tích hợp và tăng cường giám sát môi trường bằng công nghệ số.

Các chỉ số phát triển và định hướng tương lai

Tỉnh Đắk Lắk đang triển khai nhiều chính sách phát triển bền vững, hướng đến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế – sinh thái – văn hóa của Tây Nguyên đến năm 2030. Một số chỉ số phát triển đáng chú ý:

Chỉ số Giá trị (2022) Ghi chú
GRDP bình quân đầu người 47,5 triệu đồng Tăng 8,6% so với 2021
Tỷ lệ đô thị hóa 21,3% Thấp hơn trung bình quốc gia
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 64,73 điểm Thuộc nhóm trung bình khá

Định hướng phát triển tập trung vào 3 trụ cột chính:

  • Nông nghiệp công nghệ cao và hữu cơ
  • Du lịch sinh thái – văn hóa – trải nghiệm
  • Công nghiệp năng lượng tái tạo và logistics
Tỉnh cũng đang xúc tiến xây dựng quy hoạch vùng liên kết Tây Nguyên để tối ưu hóa nguồn lực và đảm bảo phát triển cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường.

Câu hỏi thường gặp

Thế mạnh kinh tế mũi nhọn nổi bật nhất của tỉnh Đắk Lắk là gì?

Đắk Lắk là thủ phủ cà phê của Việt Nam với diện tích và sản lượng cà phê Robusta lớn nhất cả nước, bên cạnh các cây công nghiệp giá trị cao như sầu riêng, hồ tiêu, cao su và phát triển năng lượng tái tạo.

Những giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu của vùng đất Đắk Lắk là gì?

Đắk Lắk là cái nôi quan trọng của Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên (Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại) cùng kho tàng sử thi thiêng liêng và truyền thống thuần dưỡng voi rừng Buôn Đôn.

Vườn quốc gia nào tại Đắk Lắk có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao nhất?

Vườn quốc gia Yok Đôn là vườn quốc gia có diện tích lớn nhất Việt Nam, nơi bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp nhiệt đới đặc hữu và các loài động vật quý hiếm như voi châu Á, bò tót.

Các nghiên cứu khoa học về “tỉnh đắk lắk”

Công bố nổi bật trên thế giới và tại Việt Nam, kèm tóm tắt theo hướng chủ đề.

Mới nhất

  • Thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của một số dự án khu đô thị tại tỉnh Đắk Lắk

    Trần Thị Trang và cộng sự2026Tạp chí Khoa học Tây Nguyên

    AI tóm tắt

    Khảo sát hồ sơ hành chính kết hợp phỏng vấn hộ dân tại 05 dự án khu đô thị đánh giá công tác quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk. Kết quả ghi nhận đã cấp 1.564 giấy chứng nhận tại các dự án này với diện tích 907.370,19 m², trong đó doanh nghiệp chiếm 962 thửa và cá nhân sở hữu 601 thửa. Công trình kiến nghị tháo gỡ vướng mắc áp dụng pháp luật, dù quy trình cấp đổi hồ sơ địa chính còn gặp nhiều cản trở thực tế.

  • Chất lượng nước hồ Lắk tại tỉnh Đắk Lắk năm 2020 và biến động chất lượng nước qua một số năm

    Dịch bởi AIWater quality of lak lake in dak lak province in 2020 and fluctuations of the water quality over some years

    Bui Thi Hoa và cộng sự2025VNUHCM Journal of Natural Sciences

    AI tóm tắt

    Quan trắc thủy hóa hydrochemical qua hai mùa tại mười vị trí đánh giá hiện trạng nước mặt Hồ Lắk thuộc lưu vực sông Sêrêpôk tại tỉnh Đắk Lắk. Nồng độ oxy hòa tan trung bình năm 2020 giảm còn 4,42 mg/L trong khi chỉ số nitrat tăng 9,57 lần so với năm 2006, phản ánh nguy cơ phú dưỡng hóa dòng chảy. Nghiên cứu cảnh báo chất lượng nước suy giảm tại Đắk Lắk, đề xuất biện pháp giám sát chặt chẽ các nguồn xả thải sinh hoạt và nông nghiệp quanh hồ.

  • BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ Ở ĐẮK LẮK TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

    Văn Sương Nguyễn và cộng sự2025Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển

    AI tóm tắt

    Phân tích xã hội học định tính làm rõ thực trạng bảo tồn di sản truyền thống của các dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Dữ liệu chỉ ra không gian cồng chiêng, nhà dài và lễ hội buôn làng đã chuyển hóa thành sản phẩm kinh tế phục vụ du lịch nhưng đang đối mặt nguy cơ mai một bản sắc. Tác giả đề xuất chính sách hỗ trợ nghệ nhân bản địa, dù quá trình thương mại hóa văn hóa vẫn tiềm ẩn nguy cơ làm biến dạng tập quán gốc.

  • Tái cấu trúc giá trị di sản nhà dài truyền thống của người Ê Đê phục vụ phát triển du lịch ở tỉnh Đắk Lắk

    Mạnh Nguyễn Văn và cộng sự2025Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung

    AI tóm tắt

    Khảo sát kiến trúc dân tộc học phân tích tiến trình biến đổi của nhà dài truyền thống người Ê Đê phục vụ du lịch tại tỉnh Đắk Lắk. Kết quả chỉ ra xu hướng phục dựng nhà dài cộng đồng đang phát triển mạnh mẽ sau nhiều năm suy giảm không gian ở. Công trình gợi mở mô hình tái cấu trúc kiến trúc gắn với trải nghiệm văn hóa bản địa, dù việc hài hòa giữa công năng đón khách du lịch và đời sống sinh hoạt gia đình tộc người còn nhiều bất cập.

  • Ứng dụng phương pháp thẩm định chéo để xây dựng mô hình thể tích cây đứng một số loài cây ưu thế rừng Khộp tại tỉnh Đắk Lắk

    TS. Nguyễn Thanh Tân2025Tạp chí Khoa học Tây Nguyên

    AI tóm tắt

    Điều tra thực nghiệm trên 156 cây giải tích xây dựng mô hình thể tích cây đứng cho ba loài ưu thế rừng khộp tại tỉnh Đắk Lắk qua thẩm định chéo Monte Carlo. Kết quả ghi nhận phương trình thể tích tối ưu đạt hệ số R²adj trên 0,96 cho cả Chiêu liêu, Dầu đồng và Dầu trà beng. Mô hình cung cấp công cụ định lượng hỗ trợ quản lý rừng khộp bền vững, dù dữ liệu còn tập trung chủ yếu ở một số lâm phần đặc thù.

Trích dẫn nhiều nhất

  • Influence of Macro Environment on Tourism Value Chain in Vietnam: case of Daklak Province

    TKD Ha và cộng sự6 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Mô hình phương trình cấu trúc trên 288 khách du lịch đánh giá tác động của môi trường vĩ mô macro environment đến chuỗi giá trị du lịch tại tỉnh Đắk Lắk. Phân tích PLS-SEM chỉ ra yếu tố hạ tầng có ảnh hưởng mạnh nhất đến cả ý định ghé thăm và ý định mua sắm đặc sản của du khách. Nghiên cứu gợi ý định hướng hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông và dịch vụ lưu trú tại Đắk Lắk, dù cỡ mẫu còn giới hạn trong phạm vi các khách sạn nội tỉnh.

  • Influence of Macro Environment on Tourism Value Chain in Vietnam: case of Daklak Province

    TK Nguyen và cộng sự3 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên trên 288 du khách tại 15 điểm đến phân tích các nhân tố môi trường vĩ mô macro environment thuộc chuỗi giá trị du lịch tại tỉnh Đắk Lắk. Kỹ thuật phân tích PLS-SEM ghi nhận hạ tầng du lịch tác động mạnh nhất đến ý định quay lại và hành vi mua sắm hàng hóa địa phương. Nghiên cứu cung cấp luận cứ thực tiễn giúp chính quyền Đắk Lắk hoạch định chính sách thu hút đầu tư, dù chưa xem xét biến điều tiết nhân khẩu học của du khách.

  • Nghiên cứu khả năng cạnh tranh của cà phê tỉnh Đắk Lắk trong thị trường hội nhập

    NV Hoá và cộng sự2 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Khảo sát kinh tế lượng trên 500 hộ trồng cà phê và năm doanh nghiệp nhằm lượng hóa năng lực cạnh tranh ngành hàng tại tỉnh Đắk Lắk qua hệ số chi phí nguồn lực trong nước. Kết quả ghi nhận chỉ số DRC/SER đạt 0,7972, cho thấy cà phê của Đắk Lắk có lợi thế so sánh rõ nét nhưng dễ tổn thương khi giá thế giới biến động. Nhóm tác giả đề xuất củng cố chuỗi giá trị và nâng cao chất lượng chế biến sâu.

  • Using landsat satellite images and GIS to estimate and monitor the amount of absorbed CO2 in dipterocarp forest, Dak Lak province

    Bui Hien Duc và cộng sự2018Vietnam Journal of Science and Technology1 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Dữ liệu viễn thám Landsat tích hợp GIS được sử dụng để lượng hóa sinh khối và khả năng hấp thụ khí CO2 của rừng khộp dipterocarp tại tỉnh Đắk Lắk. Mô hình allometric equations trên 125.404,8 ha rừng ở huyện Ea Súp và Ea H'Leo xác định trữ lượng các-bon đạt 4.093.501,1 tấn, tương ứng 15.023.149,1 tấn CO2 tích lũy. Kết quả thiết lập cơ sở khoa học cho chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Đắk Lắk trong khuôn khổ chương trình giảm phát thải.

  • Assessment of organic matter content in basalt soils under cultivation of major crops in Dak Lak province

    Nguyen Thi Thuy và cộng sự2015Vietnam Journal of Earth Sciences1 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Khảo sát thổ nhưỡng trên quy mô 344.977 ha đất bazan phân tích sự suy thoái hàm lượng chất hữu cơ dưới tác động canh tác cây công nghiệp tại tỉnh Đắk Lắk. Tầng đất mặt canh tác ghi nhận hàm lượng mùn từ 1,74% đến 6,43%, trong khi tỷ số C/N thấp phản ánh mức độ phân giải hữu cơ và cung cấp đạm hạn chế. Công trình chỉ ra nguy cơ thoái hóa đất do thâm canh kéo dài ở Đắk Lắk, khuyến nghị các giải pháp bón phân hữu cơ phục hồi độ phì.

Nổi bật tại Việt Nam

  • Using SERVQUAL model to analyse cultural tourist satisfaction: Case study of Dak Lak province, Vietnam

    Nghia Huu Le và cộng sự2021Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh3 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Phương pháp điều tra định lượng với 196 du khách áp dụng thang đo SERVQUAL khảo sát mức độ hài lòng đối với du lịch văn hóa tại tỉnh Đắk Lắk. Kết quả xác định mối tương quan thuận giữa kỳ vọng trải nghiệm dịch vụ và sự hài lòng thực tế của khách tham quan di sản bản địa. Công trình đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ bổ trợ cho chính quyền và doanh nghiệp tại Đắk Lắk, dù chưa phân tầng chi tiết theo từng nhóm khách quốc tế và nội địa.

  • ỨNG DỤNG QGIS DỰ BÁO NGUY CƠ HẠN KHÍ TƯỢNG TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI HUYỆN EA SÚP, TỈNH ĐẮK LẮK

    H’Net Nay và cộng sự2021Tạp chí Khoa học Đại học Tây Nguyên2 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Nội suy không gian chỉ số chuẩn hóa lượng mưa trên phần mềm QGIS được ứng dụng nhằm phân vùng nguy cơ hạn khí tượng tại huyện Ea Súp thuộc tỉnh Đắk Lắk. Kết quả ghi nhận hạn xuất hiện ở mức nhẹ đến trung bình năm 2020 và có xu hướng kéo dài mùa khô sang tháng 5 đến tháng 8 trong giai đoạn 2030–2040. Bản đồ cảnh báo cung cấp luận cứ thực tiễn cho chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch ứng phó thiên tai.

  • Application of Remote Sensing Imagery and GIS in Establishment of Forest Fire Hazard Map in Daklak Province

    TA Tuan và cộng sự2014Vietnam Journal of Earth Sciences2 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Tư liệu ảnh vệ tinh Landsat ETM và hệ thống GIS được khai thác để xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ cháy rừng tỷ lệ 1:100.000 trên toàn tỉnh Đắk Lắk. Phân tích chồng xếp Weighted Overlay tám tham số ghi nhận 220.565 ha rừng có nguy cơ cháy cao (36,1%) và 41.488 ha có nguy cơ rất cao (6,8%). Bản đồ cung cấp công cụ cảnh báo sớm phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại Đắk Lắk, dù dữ liệu khí tượng mùa khô cần cập nhật liên tục.

  • Ứng dụng chỉ số định lượng trong nghiên cứu đa dạng cảnh quan tỉnh Đăk Lăk

    Phạm Hoàng Hải2019Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh1 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Ứng dụng chỉ số định lượng gồm mật độ khoanh vi và chỉ số Shannon Claramunt phân tích cấu trúc cảnh quan cao nguyên tại tỉnh Đắk Lắk. Kết quả tính toán lượng hóa thành công mức độ đa dạng sinh thái, làm rõ mối quan hệ giữa hiện trạng khai thác và tiềm năng lãnh thổ sản xuất của Đắk Lắk. Phương pháp cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho quy hoạch không gian vùng, dù việc chuẩn hóa dữ liệu vi mô đòi hỏi khảo sát chi tiết hơn.

  • Integrated assessment of the natural conditions on suitability and adaptation of the project of conversion of dipterocarpaceae forest into rubber plantation in Dak Lak province

    Sy Chi Phung và cộng sự2019Tạp chí Khoa học Trái Đất và Môi trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh1 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Điều tra điều kiện tự nhiên phục vụ dự án chuyển đổi rừng khộp họ Dầu dipterocarpaceae sang trồng cây cao su rubber tại tỉnh Đắk Lắk. Kết quả phân hạng thích nghi đất đai chỉ ra toàn bộ khu vực chỉ đạt cấp S2 và S3 mà không có diện tích tối ưu, khiến tăng trưởng đường kính cây cao su kém rõ rệt sau 3 năm. Nghiên cứu khuyến cáo nguy cơ suy thoái tài nguyên khi chuyển đổi đất rừng khộp tại Đắk Lắk, đề xuất rà soát thận trọng quy hoạch dự án.

Mới nhất tại Việt Nam

  • Biodiversity potential and scientific basis for conservation in the Song Hinh - Tay Hoa area, Dak Lak province, Vietnam

    Hoi Nguyen Dang và cộng sự2025Vietnam Journal of Earth Sciences

    AI tóm tắt

    Điều tra đa dạng sinh học tại vùng Sông Hinh – Tây Hòa khu vực giáp ranh tỉnh Đắk Lắk cung cấp luận cứ khoa học cho quy hoạch bảo tồn thiên nhiên. Dữ liệu ghi nhận 1.163 loài thực vật có mạch vascular plants cùng hàng trăm loài động vật quý hiếm nằm trong Sách Đỏ và danh lục IUCN. Nhóm nghiên cứu đề xuất thành lập khu bảo tồn với vùng lõi nghiêm ngặt 13.708 ha, góp phần bảo vệ bền vững hành lang đa dạng sinh học cho Đắk Lắk.

  • VĂN HÓA TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI DU LỊCH TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

    Cường Đỗ Thị2025Tạp chí khoa học Đại học Văn Lang

    AI tóm tắt

    Tổng quan lý luận và tư liệu thực tiễn làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch tại tỉnh Đắk Lắk. Nghiên cứu chỉ ra giá trị văn hóa bản địa là nguồn lực cốt lõi để phát triển du lịch bền vững và nâng cao sức hấp dẫn điểm đến. Tác giả đề xuất định hướng kết hợp hài hòa giữa khai thác kinh tế và bảo tồn di sản ở Đắk Lắk, dù bài viết chủ yếu dựa trên tài liệu thứ cấp mà chưa khảo sát ý kiến du khách.

  • 14. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

    Trần Xuân Biên và cộng sự2025Tạp chí khoa học tài nguyên và môi trường

    AI tóm tắt

    Đánh giá tiến trình thực hiện chương trình nông thôn mới theo bộ 19 tiêu chí phân tích bước chuyển dịch cơ cấu và công nghiệp hóa tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011–2023. Tính đến cuối năm 2023, toàn tỉnh có 78 trên 151 xã đạt chuẩn với mức bình quân 16,13 tiêu chí mỗi xã, phản ánh hiệu quả đầu tư hạ tầng thiết yếu. Nhóm tác giả đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn về tiêu chí giao thông và thu nhập tại Đắk Lắk.

  • 7. HUY ĐỘNG ĐÓNG GÓP CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

    Trần Xuân Biên và cộng sự2025Tạp chí khoa học tài nguyên và môi trường

    AI tóm tắt

    Tổng kết số liệu quản lý giai đoạn 2011–2023 phân tích thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Đắk Lắk. Kết quả ghi nhận nhân dân đã đóng góp hơn 2.851 tỷ đồng (chiếm 7,1% tổng vốn huy động giai đoạn 2011–2020) cùng hàng chục nghìn ngày công và diện tích đất mở đường. Tác giả đề xuất cơ chế công khai minh bạch để phát huy nội lực người dân tại Đắk Lắk, dù mức độ đóng góp giữa các địa bàn còn chênh lệch.

  • Đánh giá tài nguyên du lịch và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng buôn Ako Dhông, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

    Thị Kim Oanh Nguyễn2022Tạp chí Khoa học Đại học Tây Nguyên0 trích dẫn

    AI tóm tắt

    Bộ tiêu chí đánh giá tài nguyên được áp dụng để khảo sát tiềm năng du lịch cộng đồng tại buôn Ako Dhông, thành phố Buôn Ma Thuột thuộc tỉnh Đắk Lắk. Kết quả xếp loại buôn Ako Dhông đạt mức khá thuận lợi với 43/56 điểm, nổi bật ở khả năng kết nối không gian và sức hấp dẫn của văn hóa Ê Đê. Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn di sản, dù liên kết giữa các chủ thể khai thác dịch vụ còn rời rạc.

Tài liệu tham khảo

  1. Truong, Phan, Phan, Sollows (2020). Trials of cage fish culture in Ea Soup reservoir, Dak Lak province, central highlands of Vietnam.. CABI Publishing. doi:10.1079/ac.60576.20203483160 DOI: 10.1079/ac.60576.20203483160
  2. Nguyen Vu, Vien Chinh, Tuong Quoc, Ta Duy et al. (2024). The state of food safety and hygiene in bottled water production facilities in the five provinces of the Central Highlands region in 2023. Heavy metals and arsenic concentrations in water, agricultural soil, and rice in Ngan Son district, Bac Kan province, Vietnam. doi:10.47866/2615-9252/vjfc.4364 DOI: 10.47866/2615-9252/vjfc.4364
  3. Parsons (2019). A new species of Amphidromus Albers, 1850 from Krong Pac District, Dak Lak Province in the Central Highlands, Vietnam. The Festivus. doi:10.54173/f513177 DOI: 10.54173/f513177