Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Suy dinh dưỡng trẻ em là gì? Các công bố khoa học về Suy dinh dưỡng trẻ em

Tiếng Anhchildhood malnutrition

Suy dinh dưỡng trẻ em là tình trạng thiếu hụt, thừa hoặc mất cân bằng các chất dinh dưỡng cần thiết (năng lượng, protein, vi chất dinh dưỡng), gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng thể chất, phát triển nhận thức và khả năng miễn dịch của trẻ dưới 5 tuổi.

196 lượt xem Cập nhật 2/9/2026

Suy dinh dưỡng trẻ em là tình trạng bệnh lý phát sinh do thiếu hụt, dư thừa hoặc mất cân đối trong khẩu phần cung cấp năng lượng, protein và các vi chất dinh dưỡng thiết yếu, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng thể chất, phát triển hệ thần kinh và chức năng miễn dịch của trẻ. Tình trạng này đặc biệt nguy hiểm ở giai đoạn dưới 5 tuổi, khi cơ thể đang trong quá trình phân chia tế bào và hoàn thiện các cơ quan chức năng với tốc độ nhanh nhất.

Khái niệm và gánh nặng toàn cầu

Theo phân tích tổng hợp của Black và cộng sự (2013) trên tạp chí The Lancet, suy dinh dưỡng là yếu tố căn nguyên đóng góp vào khoảng 45% tổng số ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu, tương đương khoảng 3,1 triệu ca tử vong mỗi năm vào thời điểm năm 2011. Suy dinh dưỡng không chỉ làm tăng nguy cơ tử vong do các bệnh nhiễm trùng thông thường như viêm phổi, tiêu chảy và sởi, mà còn để lại những di chứng vĩnh viễn về thể lực và trí tuệ.

Báo cáo của Victora và cộng sự (2021) nhấn mạnh rằng gánh nặng suy dinh dưỡng hiện nay mang tính chất kép: trong khi tình trạng suy dinh dưỡng thể thiếu (thấp còi, gầy còm) vẫn còn dai dẳng ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em lại đang gia tăng nhanh chóng tại các khu vực đô thị hóa.

Phân loại các thể suy dinh dưỡng trẻ em

Theo tiêu chuẩn phân loại nhân trắc học của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, 2006), suy dinh dưỡng trẻ em thể thiếu được chia thành ba thể lâm sàng chính:

  • Thể nhẹ cân (Underweight - Cân nặng theo tuổi): Phản ánh tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng nói chung, có thể là sự kết hợp của suy dinh dưỡng cấp tính hoặc mạn tính.
  • Thể thấp còi (Stunting - Chiều cao theo tuổi): Phản ánh tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng mạn tính kéo dài, khởi phát từ giai đoạn dinh dưỡng của người mẹ trong thai kỳ và kéo dài qua những năm đầu đời. Thể thấp còi liên quan chặt chẽ đến sự suy giảm phát triển nhận thức và khả năng lao động trong tương lai.
  • Thể gầy còm (Wasting - Cân nặng theo chiều cao): Phản ánh tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính nặng, xảy ra do sụt cân nghiêm trọng trong thời gian ngắn do thiếu đói cấp hoặc bệnh nhiễm trùng nặng. Trẻ mắc thể gầy còm có nguy cơ tử vong cao và cần can thiệp điều trị y tế khẩn cấp.
  • Suy dinh dưỡng thể phù (Kwashiorkor): Thể suy dinh dưỡng nặng do thiếu hụt protein tương đối so với năng lượng, biểu hiện bằng phù dinh dưỡng toàn thân, teo cơ, gan nhiễm mỡ và thay đổi sắc tố da, tóc.
  • Suy dinh dưỡng thể teo đét (Marasmus): Thể suy dinh dưỡng nặng do thiếu hụt toàn diện cả năng lượng và protein, trẻ có biểu hiện mất hoàn toàn lớp mỡ dưới da, da bọc xương và khuôn mặt già nua như cụ già.
Chỉ số nhân trắc Tên thể suy dinh dưỡng Ý nghĩa lâm sàng và dịch tễ
Cân nặng theo tuổi (WAZ) Thể nhẹ cân (Underweight) Đánh giá tổng quát tình trạng dinh dưỡng trong quần thể
Chiều cao theo tuổi (HAZ) Thể thấp còi (Stunting) Đánh giá suy dinh dưỡng mạn tính, di chứng lâu dài
Cân nặng theo chiều cao (WHZ) Thể gầy còm (Wasting) Đánh giá suy dinh dưỡng cấp tính, nguy cơ tử vong cao
BMI theo tuổi (BAZ) Gầy còm hoặc Thừa cân / Béo phì Đánh giá tình trạng khối nạc và mô mỡ tương đối

Phương pháp tính toán và đánh giá nhân trắc học

Để đánh giá mức độ suy dinh dưỡng một cách chuẩn hóa trên toàn cầu, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2006) sử dụng phương pháp tính điểm độ lệch chuẩn Z-score. Công thức tính Z-score cho một chỉ số nhân trắc học của trẻ được biểu diễn như sau:

Z=(Xμ)σZ = \frac{(X - \mu)}{\sigma}

Trong đó:

  • XX là giá trị nhân trắc học thực đo của trẻ (ví dụ: cân nặng tính bằng kilogam hoặc chiều cao tính bằng centimet).
  • μ\mu là giá trị trung vị của quần thể chuẩn WHO 2006 tương ứng với độ tuổi và giới tính của trẻ.
  • σ\sigma là độ lệch chuẩn của quần thể chuẩn tham chiếu WHO 2006.

Ngưỡng phân loại suy dinh dưỡng theo Z-score:

  • Bình thường: Z-score từ -2 SD đến +2 SD.
  • Suy dinh dưỡng mức độ vừa: Z-score từ -3 SD đến dưới -2 SD.
  • Suy dinh dưỡng mức độ nặng: Z-score dưới -3 SD hoặc có phù dinh dưỡng lâm sàng.

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng trẻ em mang tính đa tầng:

  • Nguyên nhân trực tiếp: Khẩu phần ăn không cung cấp đủ năng lượng và dưỡng chất cần thiết, chế độ nuôi dưỡng trẻ không hợp lý (cai sữa quá sớm, thức ăn dặm nghèo dinh dưỡng), cùng với tình trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa và hô hấp tái diễn làm giảm khả năng hấp thu dưỡng chất.
  • Nguyên nhân cơ bản: Điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, mất an ninh lương thực, tiếp cận nguồn nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường kém, trình độ chăm sóc và nhận thức dinh dưỡng của người mẹ còn hạn chế.

Hậu quả của suy dinh dưỡng trong giai đoạn cửa sổ 1000 ngày đầu đời

Giai đoạn 1000 ngày đầu đời (tính từ khi thụ thai cho đến khi trẻ tròn 2 tuổi) là giai đoạn quyết định đối với sự phát triển cấu trúc tế bào não bộ, hệ thống miễn dịch và tiềm năng chiều cao trọn đời. Suy dinh dưỡng trong giai đoạn này gây ra những biến đổi biểu sinh và tổn thương cấu trúc không thể hồi phục:

  • Phát triển trí não: Giảm số lượng tế bào thần kinh, giảm mức độ myelin hóa sợi trục và giảm mật độ khớp thần kinh, dẫn đến suy giảm chỉ số IQ, giảm khả năng tập trung và kết quả học tập kém khi đi học.
  • Tầm vóc và thể lực: Trẻ bị thấp còi lúc 2 tuổi có xu hướng trở thành người trưởng thành có chiều cao thấp, khối cơ giảm và sức bền lao động suy giảm.
  • Nguy cơ bệnh mạn tính: Theo giả thuyết nguồn gốc phát triển của sức khỏe và bệnh tật (DOHaD), sự thiếu hụt dinh dưỡng sớm lập trình lại chuyển hóa của cơ thể, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tăng huyết áp và đái tháo đường type 2 khi trưởng thành.

Chiến lược phòng ngừa và can thiệp dinh dưỡng

Các giải pháp can thiệp toàn diện bao gồm:

  • Chăm sóc dinh dưỡng thai kỳ: Bổ sung sắt, acid folic, đa vi chất cho phụ nữ mang thai để phòng chống sinh non và trẻ nhẹ cân khi sinh.
  • Nuôi con bằng sữa mẹ: Cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 24 tháng tuổi.
  • Ăn bổ sung hợp lý: Bắt đầu cho trẻ ăn dặm từ tròn 6 tháng tuổi với chế độ ăn cân đối đủ 4 nhóm thực phẩm (bột đường, đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất).
  • Bổ sung vi chất định kỳ: Cho trẻ uống vitamin A liều cao định kỳ 6 tháng một lần, tẩy giun định kỳ từ 12 tháng tuổi và bổ sung kẽm trong điều trị tiêu chảy cấp.
  • Quản lý và điều trị suy dinh dưỡng cấp tính nặng: Áp dụng phác đồ điều trị ngoại trú với thực phẩm điều trị ăn liền (RUTF) cho trẻ không có biến chứng và điều trị nội trú tại bệnh viện cho trẻ có biến chứng y khoa.

Câu hỏi thường gặp

Ba thể suy dinh dưỡng phổ biến nhất ở trẻ em là gì?

Ba thể phổ biến gồm: thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi thấp, phản ánh thiếu hụt dinh dưỡng chung), thể thấp còi (chiều cao theo tuổi thấp, phản ánh suy dinh dưỡng mạn tính kéo dài) và thể gầy còm (cân nặng theo chiều cao thấp, phản ánh suy dinh dưỡng cấp tính).

Chỉ số Z-score được tính và phân loại thế nào trong đánh giá dinh dưỡng trẻ em?

Z-score biểu thị độ lệch chuẩn của chỉ số nhân trắc học của trẻ so với giá trị trung vị của quần thể chuẩn WHO 2006. Trẻ được phân loại suy dinh dưỡng khi Z-score dưới -2 SD, và suy dinh dưỡng nặng khi Z-score dưới -3 SD.

Hậu quả lâu dài của suy dinh dưỡng thấp còi trong 1000 ngày đầu đời là gì?

Suy dinh dưỡng trong 1000 ngày đầu đời làm tổn thương không hồi phục cấu trúc não bộ, giảm chỉ số IQ, giảm tầm vóc khi trưởng thành, giảm năng suất lao động và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây (tim mạch, đái tháo đường) ở tuổi trưởng thành.

Tài liệu tham khảo

  1. Black, R. E., Victora, C. G., Walker, S. P., Bhutta, Z. A., Christian, P., de Onis, M., ... & Maternal and Child Nutrition Study Group (2013). Maternal and child undernutrition and overweight in low-income and middle-income countries. The Lancet, 382(9890), 427-451. DOI: 10.1016/S0140-6736(13)60937-X
  2. Victora, C. G., Christian, P., Vidaletti, L. P., Gatica-Domínguez, G., Menon, P., & Black, R. E. (2021). Revisiting maternal and child undernutrition in low-income and middle-income countries: variable progress towards an unfinished agenda. The Lancet, 397(10282), 1388-1399. DOI: 10.1016/s0140-6736(21)00394-9
  3. World Health Organization (2006). WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: Methods and development. World Health Organization. Nguồn