Từ điển học thuật Khoa học xã hội

Khu vực Tây Nam Bộ là gì? Đặc điểm tự nhiên và kinh tế

Tiếng Anhsouthwest region of vietnam

Tên gọi khácTây Nam BộVùng Đồng bằng sông Cửu LongMiền Tây Nam BộVùng Tây Nam Bộ

Khu vực Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) là vùng lãnh thổ nằm ở cực nam của Việt Nam, được bồi đắp bởi hệ thống hạ lưu sông Mê Kông với mạng lưới sông ngòi kênh rạch dày đặc. Vùng giữ vai trò trụ cột trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu nông - thủy sản chủ lực của cả nước.

Cập nhật 9/9/2026

Câu hỏi thường gặp

Khu vực Tây Nam Bộ bao gồm những tỉnh, thành phố nào?

Khu vực Tây Nam Bộ gồm 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh trực thuộc Trung ương, bao gồm thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.

Vì sao khu vực Tây Nam Bộ có địa hình rất thấp và đối mặt nguy cơ ngập lụt?

Theo nghiên cứu của Minderhoud và cs. (2019) trên Nature Communications, độ cao địa hình trung bình của Đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt khoảng 0,82 m so với mực nước biển địa phương, thấp hơn đáng kể so với các mô hình trước đây. Địa hình trũng thấp khiến phần lớn diện tích dễ bị tổn thương trước triều cường và nước biển dâng.

Nguyên nhân chính gây sụt lún đất tại Tây Nam Bộ là gì?

Nghiên cứu của Minderhoud và cs. (2017) chỉ ra rằng việc khai thác nước ngầm quá mức phục vụ sinh hoạt, công nghiệp và nuôi trồng thủy sản là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sụt lún đất tại đồng bằng, với tốc độ sụt lún trung bình 1,1 cm/năm và có nơi vượt quá 2,5 cm/năm, nhanh hơn tốc độ nước biển dâng tuyệt đối.

Tư duy 'thuận thiên' theo Nghị quyết 120/NQ-CP có ý nghĩa gì đối với sự phát triển của Tây Nam Bộ?

Tư duy 'thuận thiên' định hướng phát triển vùng dựa trên sự tôn trọng quy luật tự nhiên, coi nước mặn và nước lợ là tài nguyên thay vì chỉ xem là thiên tai. Chính sách chuyển trọng tâm từ độc canh cây lúa sang phát triển hệ sinh thái đa dạng nông nghiệp - thủy sản thích ứng với nguồn nước từng tiểu vùng sinh thái.

Tài liệu tham khảo

  1. Minderhoud, P. S. J., Coumou, L., Erkens, G., Middelkoop, H., & Stouthamer, E. (2019). Mekong delta much lower than previously assumed in sea-level rise impact assessments. Nature Communications, 10, 3847. DOI: 10.1038/s41467-019-11602-1
  2. Minderhoud, P. S. J., Erkens, G., Pham, V. H., Bui, V. T., Erban, L. E., Kooi, H., & Stouthamer, E. (2017). Impacts of 25 years of groundwater extraction on subsidence in the Mekong delta, Vietnam. Environmental Research Letters, 12(6), 064006. DOI: 10.1088/1748-9326/aa7146
  3. Kondolf, G. M., Rubin, Z. K., & Minear, J. T. (2014). Dams on the Mekong: Cumulative sediment starvation. Water Resources Research, 50(6), 5158–5169. DOI: 10.1002/2013wr014651
  4. Eslami, S., Hoekstra, P., Nguyen Trung, N., Ahmed Kantoush, S., Van Binh, D., Duc Dung, D., Tran Quang, T., & van der Vegt, M. (2019). Tidal amplification and salt intrusion in the Mekong Delta driven by anthropogenic sediment starvation. Scientific Reports, 9, 18746. DOI: 10.1038/s41598-019-55018-9
  5. Minkman, E., Nguyen, H. Q., Luu, T. C., Dang, C. H., Nguyen, P. T., Du, T. X., Huizer, P., & Rijke, J. (2022). From national vision to implementation: governance challenges in sustainable agriculture transitions in the Vietnamese Mekong Delta region. Regional Environmental Change, 22, 59. DOI: 10.1007/s10113-022-01898-z
  6. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 287/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nguồn
  7. Chính phủ (2017). Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Nguồn