Dung dịch nhị phân (binary solution) là hệ nhiệt động học đồng thể gồm đúng hai cấu tử hóa học riêng biệt (thường được quy ước là cấu tử A và cấu tử B, hoặc dung môi và chất tan) phân tán đều ở cấp độ phân tử, ion hoặc nguyên tử, tồn tại trong một pha vật chất duy nhất mà không có ranh giới bề mặt phân chia giữa các thành phần. Dung dịch nhị phân là đối tượng nghiên cứu nền tảng và kinh điển nhất của nhiệt động học dung dịch, hóa lý và kỹ thuật hóa học, đóng vai trò bản lề trong việc mô tả các hiện tượng chuyển pha, cân bằng lỏng - hơi, cân bằng lỏng - lỏng và cân bằng lỏng - rắn.
Bản chất nhiệt động và quá trình tạo thành dung dịch
Sự hình thành của một dung dịch nhị phân từ hai chất nguyên chất ở nhiệt độ T và áp suất P không đổi được chi phối bởi sự biến thiên của năng lượng tự do Gibbs trộn . Điều kiện nhiệt động học tất yếu để quá trình hòa tan tự phát diễn ra là :
Trong đó:
- là entanpy trộn (nhiệt hòa tan), phản ánh sự chênh lệch năng lượng tương tác giữa các phân tử cùng loại (A-A, B-B) và khác loại (A-B).
- là entropi trộn, phản ánh mức độ gia tăng tính hỗn loạn cấu hình và không gian khi các phân tử trộn lẫn vào nhau, trong khi dấu của quyết định bản chất thu nhiệt hay tỏa nhiệt của toàn bộ quá trình hòa tan.
- là nhiệt độ nhiệt động học tuyệt đối của hệ.
Thành phần của dung dịch nhị phân được xác định thông qua phân số mol (nồng độ phần mol). Đối với cấu tử A, phân số mol được tính theo số mol và :
Tương tự, đối với cấu tử B ta có phân số mol tương ứng thỏa mãn điều kiện chuẩn hóa tổng phân số mol trong pha lỏng (tổng quát với từng phân số mol cấu tử và trong các phương trình cân bằng pha tổng quát).
Dung dịch nhị phân lý tưởng và định luật Raoult
Dung dịch nhị phân lý tưởng (ideal binary solution) là mô hình lý thuyết chuẩn mà trong đó năng lượng tương tác giữa các phân tử khác loại A-B hoàn toàn tương đương với năng lượng tương tác giữa các phân tử cùng loại A-A và B-B, đồng thời kích thước và hình dạng hình học của hai loại phân tử là tương đồng.
Trong dung dịch lý tưởng, không có sự hấp thu hay giải phóng nhiệt lượng trong quá trình hòa tan, nghĩa là entanpy trộn triệt tiêu hoàn toàn:
Đồng thời, sự biến thiên thể tích trộn cũng bằng không. Biến thiên năng lượng Gibbs trộn khi đó hoàn toàn do phần đóng góp của entropi trộn cấu hình thuần túy.
Đối với cân bằng lỏng - hơi của dung dịch lý tưởng, áp suất riêng phần của mỗi cấu tử trong pha hơi cân bằng tỉ lệ thuận với phân số mol của cấu tử đó trong pha lỏng theo định luật Raoult kinh điển:
Trong đó là áp suất hơi bão hòa của cấu tử nguyên chất ở cùng nhiệt độ khảo sát. Khi đó, tổng áp suất hơi của hệ nhị phân lý tưởng tuân theo định luật Dalton là tổng các áp suất riêng phần:
Quan hệ này dẫn đến giản đồ pha nhiệt độ - thành phần và áp suất - thành phần có dạng tuyến tính đơn giản, không xuất hiện các điểm cực trị.
Dung dịch nhị phân thực và hệ số hoạt độ
Trong thực tế hóa học, hầu hết các hệ nhị phân đều thể hiện hành vi sai lệch (non-ideal behavior) so với định luật Raoult do sự khác biệt về bản chất liên kết hóa học, mômen lưỡng cực điện, liên kết hydro hoặc kích thước lập thể giữa hai chất.
Để duy trì dạng toán học của các biểu thức nhiệt động dung dịch lý tưởng khi áp dụng cho dung dịch thực, Gilbert N. Lewis đã đưa vào khái niệm hoạt độ nhiệt động và hệ số hoạt độ (ký hiệu tổng quát là hoặc hệ số ):
Khi đó, phương trình định luật Raoult hiệu chỉnh cho dung dịch thực được viết thành:
Hệ số hoạt độ và biến thiên hệ số theo nồng độ phản ánh mức độ sai lệch của dung dịch thực so với dung dịch lý tưởng:
- Khi : Dung dịch hành xử hoàn toàn lý tưởng.
- Khi : Dung dịch có sai lệch dương so với định luật Raoult. Hiện tượng này xảy ra khi lực hút giữa các phân tử khác loại A-B yếu hơn lực hút giữa các phân tử cùng loại A-A và B-B, làm cho các phân tử dễ dàng bứt khỏi pha lỏng để bay hơi, kéo theo (quá trình thu nhiệt).
- Khi : Dung dịch có sai lệch âm so với định luật Raoult. Hiện tượng này xuất hiện khi lực tương tác giữa các phân tử khác loại A-B mạnh hơn tương tác cùng loại (ví dụ tạo liên kết hydro liên phân tử mạnh giữa axeton và cloroform), khiến các phân tử bị giữ chặt trong pha lỏng, kéo theo (quá trình tỏa nhiệt).
Năng lượng Gibbs dư thừa và các mô hình nhiệt động dung dịch
Mức độ sai lệch phi lý tưởng của dung dịch nhị phân được định lượng một cách hệ thống thông qua hàm nhiệt động dư thừa, tiêu biểu nhất là năng lượng Gibbs dư thừa mol :
Để mô tả quan hệ giải tích giữa , phân số mol và nhiệt độ, nhiều mô hình nhiệt động học đã được phát triển:
Mô hình đa thức Redlich-Kister
Năm 1948, Otto Redlich và A. T. Kister đã đề xuất việc khai triển năng lượng Gibbs dư thừa theo chuỗi lũy thừa của hiệu số phân số mol :
Phương trình Redlich-Kister năm 1948 cho phép khớp dữ liệu thực nghiệm cân bằng pha với độ chính xác cao và kiểm tra tính nhất quán nhiệt động theo phương trình Gibbs-Duhem.
Mô hình nồng độ cục bộ Wilson
Năm 1964, Grant M. Wilson đã giới thiệu khái niệm nồng độ cục bộ (local composition), giả định rằng nồng độ phân tử xung quanh một phân tử trung tâm khác biệt so với nồng độ trung bình toàn thể do sự ưu tiên tương tác năng lượng. Mô hình Wilson năm 1964 đặc biệt hiệu quả trong việc mô tả các hệ dung dịch nhị phân chứa hợp chất phân cực và có liên kết hydro.
Mô hình NRTL và UNIQUAC
Năm 1968, Henri Renon và J. M. Prausnitz đã phát triển mô hình NRTL (Non-Random Two-Liquid). Mô hình này mở rộng khái niệm nồng độ cục bộ của Wilson và áp dụng thành công cho cả các hệ nhị phân có hiện tượng phân tách hai pha lỏng (hỗn hợp không hòa tan hoàn toàn). Tiếp đó, vào năm 1975, Denis S. Abrams và J. M. Prausnitz đã thiết lập mô hình UNIQUAC (Universal Quasi-Chemical), kết hợp cơ học thống kê để phân tách năng lượng dư thừa thành phần tổ hợp hình học và phần dư thừa tương tác năng lượng.
Phương pháp đóng góp nhóm UNIFAC
Năm 1975, Aage Fredenslund, R. L. Jones và J. M. Prausnitz đã mở rộng mô hình sang phương pháp UNIFAC. Phương pháp này phân chia phân tử thành các nhóm chức cấu tạo cơ bản, cho phép dự đoán hệ số hoạt độ của dung dịch nhị phân hoàn toàn từ dữ liệu tương tác nhóm mà không cần đo đạc thực nghiệm trực tiếp từng cặp chất.
Hiện tượng đẳng phí trong dung dịch nhị phân
Khi dung dịch nhị phân có sai lệch rất lớn so với định luật Raoult (sai lệch dương lớn hoặc sai lệch âm lớn), đường áp suất hơi hoặc đường nhiệt độ sôi theo thành phần sẽ xuất hiện điểm cực trị (cực đại hoặc cực tiểu). Điểm cực trị này được gọi là điểm đẳng phí (azeotrope).
Tại thành phần đẳng phí, thành phần của pha lỏng hoàn toàn trùng khớp với thành phần của pha hơi cân bằng:
Khi đun sôi một dung dịch nhị phân ở điểm đẳng phí, dung dịch sôi ở một nhiệt độ không đổi và pha hơi bốc lên có cùng tỷ lệ thành phần như pha lỏng. Do đó, phương pháp chưng cất phân đoạn thông thường không thể tách riêng hai cấu tử nguyên chất vượt qua điểm đẳng phí, đòi hỏi phải áp dụng các kỹ thuật đặc biệt như chưng cất đẳng phí, chưng cất trích ly hoặc sử dụng màng thẩm thấu tách phân tử.
Điều kiện áp dụng và giới hạn của các mô hình nhiệt động dung dịch nhị phân
Mỗi mô hình nhiệt động lực học dung dịch được xây dựng trên những giả thiết vật lý nhất định, do đó kỹ sư và nhà nghiên cứu cần nắm vững phạm vi áp dụng và giới hạn lý thuyết để lựa chọn công cụ tính toán chính xác:
- Giới hạn của định luật Raoult và mô hình khí lý tưởng: Định luật Raoult chỉ có giá trị xấp xỉ tốt ở vùng áp suất thấp đến trung bình. Khi áp suất hệ thống tăng cao hoặc khi nhiệt độ tiến sát vùng tới hạn của một trong hai cấu tử, pha hơi không còn tuân theo định luật khí lý tưởng và pha lỏng chịu sự nén ép đáng kể. Trong điều kiện này, việc tính toán cân bằng lỏng - hơi bắt buộc phải chuyển sang tiếp cận hệ số bay hơi (fugacity coefficient) bằng cách sử dụng các phương trình trạng thái (Equations of State, EOS) như phương trình Peng-Robinson hoặc Soave-Redlich-Kwong kết hợp các quy tắc trộn phù hợp.
- Giới hạn của mô hình Wilson: Mặc dù mô hình Wilson năm 1964 mô tả xuất sắc cân bằng lỏng - hơi của các hệ nhị phân phân cực hoàn toàn đồng tan, dạng toán học của hàm năng lượng Gibbs tự do trộn trong mô hình Wilson luôn đảm bảo tính lồi trên toàn bộ khoảng nồng độ. Do đó, mô hình Wilson không thể dự đoán hoặc mô tả hiện tượng phân tách hai pha lỏng (cân bằng lỏng - lỏng, LLE) đối với các hệ nhị phân có độ hòa tan hạn chế.
- Ưu thế và phạm vi của mô hình NRTL và UNIQUAC: Phương trình NRTL năm 1968 và mô hình UNIQUAC năm 1975 khắc phục triệt để nhược điểm của mô hình Wilson, cho phép mô phỏng đồng thời cả cân bằng lỏng - hơi (VLE), cân bằng lỏng - lỏng (LLE) và cân bằng lỏng - lỏng - hơi (VLLE). Tuy nhiên, các thông số tương tác nhị phân của NRTL và UNIQUAC phụ thuộc vào nhiệt độ và phải được tối ưu hóa từ dữ liệu thực nghiệm tin cậy.
- Hạn chế của phương pháp đóng góp nhóm UNIFAC: Mặc dù phương pháp UNIFAC năm 1975 mang tính tiên đoán mạnh mẽ, phương pháp này gặp khó khăn đối với các phân tử có cấu trúc lập thể phức tạp (đồng phân cis/trans, đồng phân quang học) do giả định rằng các nhóm chức đóng góp độc lập vào năng lượng tương tác. Ngoài ra, UNIFAC không áp dụng trực tiếp được cho các hệ dung dịch điện ly chứa muối vô cơ phân ly thành ion mạnh hoặc các dung dịch chứa polyme có khối lượng phân tử siêu lớn nếu không có các hiệu chỉnh mở rộng chuyên biệt.
Phân loại dung dịch nhị phân
| Loại dung dịch nhị phân | Đặc trưng tương tác phân tử | Hệ số hoạt độ | Ví dụ tiêu biểu |
|---|---|---|---|
| Dung dịch lý tưởng | Tương tác A-B tương đương A-A và B-B; | Benzen - Toluen, Hexan - Heptan | |
| Sai lệch dương | Tương tác A-B yếu hơn A-A và B-B; | Etanol - Nước, Axeton - Cacbon disunfua | |
| Sai lệch âm | Tương tác A-B mạnh hơn A-A và B-B; | Axeton - Cloroform, Axit nitric - Nước |
Ứng dụng thực tiễn trong công nghiệp hóa chất
Hiểu biết sâu sắc về nhiệt động học và cân bằng pha của dung dịch nhị phân là nền tảng cho nhiều lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ hiện đại:
- Thiết kế tháp chưng cất: Tính toán số đĩa lý thuyết và tỷ số hoàn lưu trong các tháp chưng cất tách phân đoạn dầu mỏ, tinh chế cồn công nghiệp và dung môi hóa chất.
- Kỹ thuật trích ly lỏng - lỏng: Lựa chọn dung môi phù hợp dựa trên hệ số phân bố và cân bằng lỏng - lỏng nhị phân để tách các hợp chất có giá trị cao hoặc các chất ô nhiễm môi trường.
- Mô phỏng quy trình hóa kỹ thuật: Các mô hình nhiệt động NRTL, Wilson và UNIFAC được tích hợp trong các phần mềm mô phỏng quy trình thương mại như Aspen Plus và PRO/II để thiết kế và tối ưu hóa toàn diện các nhà máy hóa chất, nhà máy lọc dầu và các cụm xử lý khí tự nhiên.