Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ là không gian kinh tế - xã hội và sinh thái dải ven biển miền Trung Việt Nam, trải dài qua 14 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, giữ vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng về địa chính trị, kinh tế biển, quốc phòng, an ninh và là cầu nối tự nhiên kết nối hai đầu Bắc - Nam cũng như cửa ngõ hướng biển của Hành lang kinh tế Đông - Tây.
Vị trí địa lý, phạm vi ranh giới và đặc điểm tự nhiên
Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ (thường được gọi chung là vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung) trải dài theo hướng tây bắc - đông nam, ôm trọn dải bờ biển dài gần 1.800 km của miền Trung. Phía bắc của vùng tiếp giáp vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Trung du và miền núi phía Bắc; phía nam giáp vùng Đông Nam Bộ; phía tây tựa lưng vào dãy Trường Sơn, tiếp giáp biên giới hai nước bạn Lào và Campuchia cùng vùng Tây Nguyên; phía đông mở rộng ra toàn bộ Biển Đông với vịnh Bắc Bộ và vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Theo Niên giám Thống kê năm 2022 của Tổng cục Thống kê (2023), diện tích tự nhiên của toàn vùng là 95.847,9 km2 (chiếm khoảng 28,9% diện tích cả nước, cụ thể là 28,92%), với quy mô dân số trung bình đạt 20.661,7 nghìn người (tương đương khoảng 20,66 triệu người) và mật độ dân số trung bình đạt 216 người/km2. Lãnh thổ của vùng mang hình thể hẹp ngang và kéo dài, trong đó đoạn hẹp nhất thuộc tỉnh Quảng Bình với bề rộng tính từ biên giới phía tây sang bờ biển phía đông chỉ khoảng 50 km.
Địa hình tự nhiên của vùng có cấu trúc nghiêng dốc rõ rệt từ tây sang đông, hình thành nên các dải cảnh quan sinh thái kế tiếp nhau:
- Vùng núi cao Trường Sơn ở phía tây: Có địa hình hiểm trở, rừng đầu nguồn giàu đa dạng sinh học và giữ chức năng phòng hộ thủy văn tối quan trọng cho toàn bộ đồng bằng duyên hải.
- Dải gò đồi trung du chuyển tiếp: Địa hình lượn sóng tạo điều kiện phát triển lâm nghiệp, vườn đồi, cây công nghiệp dài ngày và chăn nuôi đại gia súc.
- Đồng bằng hẹp ven biển: Được bồi tụ bởi phù sa sông và cát biển, chia cắt thành nhiều ô trũng nhỏ hẹp bởi các nhánh núi Trường Sơn đâm ngang sát biển như dãy Hoành Sơn (Đèo Ngang), dãy Bạch Mã (Đèo Hải Vân), Đèo Cù Mông và Đèo Cả.
- Dải bờ biển, đầm phá và thềm lục địa: Bờ biển khúc khuỷu sở hữu nhiều bán đảo, vũng vịnh sâu kín gió, hệ thống cồn cát, bãi triều, rừng ngập mặn và các hệ đầm phá nước lợ ven biển có giá trị sinh thái đặc biệt.
Mạng lưới sông ngòi của vùng phần lớn bắt nguồn từ sườn đông dãy Trường Sơn. Do khoảng cách từ thượng nguồn ra biển rất ngắn và độ dốc lưu vực lớn, các dòng sông như sông Mã, sông Chu, sông Lam, sông Gianh, sông Thạch Hãn, sông Hương, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Ba (sông Đà Rằng) có chế độ thủy văn phân hóa cực đoan. Trong mùa mưa lũ, lưu lượng dòng chảy tập trung dồn dập khiến lũ dâng nhanh đột ngột; trái lại trong mùa khô, dòng chảy cạn kiệt dẫn đến thiếu hụt nước ngọt và xâm nhập mặn sâu vào nội địa.
Khí hậu của vùng có sự phân hóa sâu sắc do tác động của bức chắn địa hình đèo Hải Vân:
- Khu vực phía bắc đèo Hải Vân (Bắc Trung Bộ): Mang tính chất nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông bắc kèm theo mưa phùn rét buốt vào mùa đông, và chịu tác động mạnh mẽ của hiện tượng gió phơn tây nam khô nóng vào đầu mùa hè.
- Khu vực phía nam đèo Hải Vân (Duyên hải Nam Trung Bộ): Mang tính chất cận xích đạo gió mùa, nền nhiệt độ cao quanh năm, mùa mưa lệch hẳn sang các tháng cuối năm. Riêng dải duyên hải Ninh Thuận và Bình Thuận có khí hậu bán khô hạn đặc thù với lượng mưa hàng năm dưới 1.000 mm (nhiều nơi chỉ đạt khoảng 700 mm/năm), là vùng khô hạn và có nhiều nắng gió nhất Việt Nam.
Cấu trúc phân vùng và các tiểu vùng kinh tế - xã hội
Trong phân vùng địa lý và thống kê truyền thống, khu vực miền Trung duyên hải thường được chia thành 2 bộ phận: Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) và Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh, thành phố (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận). Tuy nhiên, nhằm khắc phục tính dàn trải và phân tán nguồn lực, tạo ra các trục động lực bứt phá, Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị (2022) và Quyết định số 376/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2024) phê duyệt Quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã chính thức xác lập cấu trúc không gian phát triển gồm 3 tiểu vùng kinh tế - xã hội:
1. Tiểu vùng Bắc Trung Bộ (gồm 5 tỉnh)
Bao gồm 5 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị. Tiểu vùng đóng vai trò cầu nối chiến lược giữa Thủ đô Hà Nội, vùng Đồng bằng sông Hồng với dải miền Trung và các nước tiểu vùng sông Mê Kông qua các cửa khẩu quốc tế. Trọng tâm phát triển của tiểu vùng là các ngành công nghiệp lọc hóa dầu, luyện kim, chế tạo cơ khí, vật liệu xây dựng cao cấp, năng lượng sạch, du lịch sinh thái di sản và nông nghiệp công nghệ cao. Thành phố Vinh (Nghệ An) giữ vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế của tiểu vùng, kết hợp với cực tăng trưởng phía Bắc là tỉnh Thanh Hóa.
2. Tiểu vùng Trung Trung Bộ (gồm 5 tỉnh, thành phố)
Bao gồm 5 tỉnh, thành phố: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Đây là vùng kinh tế động lực trọng yếu của miền Trung, sở hữu mật độ đô thị hóa cao, các trường đại học lớn, các viện nghiên cứu và chuỗi khu kinh tế ven biển phát triển. Thành phố Đà Nẵng là đô thị hạt nhân, cực tăng trưởng quốc gia, trung tâm đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, tài chính quốc tế và logistics. Thừa Thiên Huế là trung tâm văn hóa, di sản, giáo dục đại học và y tế chuyên sâu; Quảng Nam phát triển trung tâm cơ khí ô tô và công nghiệp hỗ trợ; Quảng Ngãi là trung tâm lọc hóa dầu và công nghiệp nặng; Bình Định phát triển trung tâm khoa học công nghệ, dịch vụ cảng biển và du lịch biển.
3. Tiểu vùng Nam Trung Bộ (gồm 4 tỉnh)
Bao gồm 4 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Tiểu vùng là cửa ngõ hướng biển kết nối chặt chẽ với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Đông Nam Bộ) và vùng Tây Nguyên. Thế mạnh nổi bật của tiểu vùng là dịch vụ hàng hải quốc tế gắn với vịnh nước sâu Cam Ranh và vịnh Vân Phong, du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp tầm cỡ quốc tế (Nha Trang, Mũi Né - Phan Thiết), nuôi trồng thủy sản công nghệ cao và trung tâm công nghiệp năng lượng tái tạo của cả nước (điện gió, điện mặt trời, điện gió ngoài khơi, thủy điện tích năng).
Bảng tổng hợp không gian hành chính và đặc trưng thế mạnh kinh tế của 14 địa phương trong vùng:
| Tỉnh, thành phố | Tiểu vùng quy hoạch | Thế mạnh kinh tế và lĩnh vực trọng tâm |
|---|---|---|
| Thanh Hóa | Bắc Trung Bộ | Lọc hóa dầu Nghi Sơn, nhiệt điện, xi măng, cảng biển nước sâu, du lịch biển Sầm Sơn, nông nghiệp quy mô lớn. |
| Nghệ An | Bắc Trung Bộ | Đô thị Vinh trung tâm dịch vụ và giáo dục, công nghiệp phụ trợ, cảng Cửa Lò, chế biến nông lâm sản công nghệ cao. |
| Hà Tĩnh | Bắc Trung Bộ | Luyện kim và cán thép chất lượng cao, cảng biển nước sâu Sơn Dương - Vũng Áng, năng lượng nhiệt điện và logistic. |
| Quảng Bình | Bắc Trung Bộ | Kinh tế du lịch khám phá hang động di sản thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, năng lượng tái tạo, cảng biển Hòn La. |
| Quảng Trị | Bắc Trung Bộ | Đầu mối Hành lang kinh tế Đông - Tây, Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, năng lượng khí và gió, cảng biển Mỹ Thủy. |
| Thừa Thiên Huế | Trung Trung Bộ | Đô thị di sản trực thuộc Trung ương, trung tâm y tế chuyên sâu và đại học, du lịch di sản, cảng nước sâu Chân Mây. |
| Đà Nẵng | Trung Trung Bộ | Cực tăng trưởng quốc gia, công nghệ cao, vi mạch bán dẫn, tài chính, logistics quốc tế, cảng Tiên Sa và Liên Chiểu. |
| Quảng Nam | Trung Trung Bộ | Tổ hợp cơ khí sản xuất ô tô Chu Lai, công nghiệp hỗ trợ, dược liệu, cảng biển Kỳ Hà, di sản thế giới Hội An và Mỹ Sơn. |
| Quảng Ngãi | Trung Trung Bộ | Lọc hóa dầu và công nghiệp nặng Dung Quất, cơ khí đóng tàu, chế tạo thiết bị công nghiệp nặng, kinh tế biển Lý Sơn. |
| Bình Định | Trung Trung Bộ | Trung tâm dịch vụ logistics cảng Quy Nhơn, công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu, trung tâm khoa học giáo dục liên ngành. |
| Phú Yên | Nam Trung Bộ | Khu kinh tế Nam Phú Yên, dịch vụ du lịch vịnh Vũng Rô, nuôi trồng và chế biến cá ngừ đại dương, năng lượng sạch. |
| Khánh Hòa | Nam Trung Bộ | Trung tâm dịch vụ hàng hải quốc tế Bắc Vân Phong và Cam Ranh, du lịch biển đảo cao cấp Nha Trang, đóng tàu biển. |
| Ninh Thuận | Nam Trung Bộ | Trung tâm năng lượng tái tạo quốc gia (điện gió, điện mặt trời), du lịch Ninh Chữ, nông nghiệp thích ứng khô hạn. |
| Bình Thuận | Nam Trung Bộ | Trung tâm năng lượng sạch và điện gió ngoài khơi, du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Mũi Né, khai thác titan, thanh long. |
Tiềm năng phát triển kinh tế biển và hệ thống hạ tầng kết nối
Kinh tế biển được Đảng và Nhà nước xác định là trục động lực xuyên suốt của toàn bộ dải duyên hải miền Trung. Sở hữu hơn 55% bờ biển cả nước cùng vùng thềm lục địa và lãnh hải rộng lớn, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ hội tụ đầy đủ các điều kiện tiền đề để xây dựng nền kinh tế đại dương thịnh vượng:
1. Hệ thống cảng biển nước sâu và chuỗi khu kinh tế ven biển
Bờ biển miền Trung có cấu tạo địa chất kiên cố với nhiều mũi đá nhô ra biển, tạo nên những vũng vịnh sâu kín gió, rất ít bị bồi lắng phù sa, cho phép tiếp nhận các tàu trọng tải lớn từ hàng vạn đến hàng chục vạn tấn. Toàn vùng đã hình thành mạng lưới cảng biển quốc gia và quốc tế gồm Nghi Sơn, Cửa Lò, Vũng Áng - Sơn Dương, Chân Mây, Tiên Sa, Liên Chiểu, Dung Quất, Quy Nhơn, Vân Phong và Cam Ranh. Gắn liền với các cảng biển này là chuỗi các khu kinh tế ven biển quy mô lớn (như KKT Nghi Sơn, KKT Vũng Áng, KKT Chân Mây - Lăng Cô, KKT Chu Lai, KKT Dung Quất, KKT Nhơn Hội, KKT Nam Phú Yên, KKT Vân Phong), tạo thành các tổ hợp liên kết công nghiệp - cảng biển - dịch vụ hậu cần logistics.
2. Trục hạ tầng giao thông đa phương thức Bắc - Nam
Khung hạ tầng kết nối Bắc - Nam dọc duyên hải đóng vai trò xương sống huyết mạch lưu thông hàng hóa và hành khách của đất nước. Hệ thống này bao gồm Quốc lộ 1, tuyến đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông đang từng bước hoàn chỉnh khép kín, tuyến đường sắt Bắc - Nam và tuyến đường bộ ven biển chạy dọc bờ biển 14 tỉnh thành. Bên cạnh đó, vùng có mật độ cảng hàng không dày đặc với 9 sân bay đang vận hành (Thọ Xuân, Vinh, Đồng Hới, Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Phù Cát, Tuy Hòa, Cam Ranh), trong đó các sân bay Đà Nẵng, Cam Ranh, Phú Bài giữ vai trò cửa ngõ hàng không quốc tế đón khách du lịch và dịch vụ chất lượng cao.
3. Các hành lang kinh tế Đông - Tây kết nối xuyên biên giới
Nhờ vị thế mặt tiền hướng biển của bán đảo Đông Dương, miền Trung là cửa ngõ biển tự nhiên gần nhất và thuận tiện nhất cho các vùng nội địa không giáp biển của Lào, Đông Bắc Thái Lan và Tây Nguyên ra biển quốc tế. Theo định hướng tại Quyết định số 376/QĐ-TTg, hệ thống hành lang kinh tế Đông - Tây được quy hoạch phát triển mạnh mẽ:
- Hành lang kinh tế Đông - Tây quốc tế (EWEC): Chiều dài toàn tuyến khoảng 1.450 km khởi đầu từ Mawlamyine (Myanmar) đi qua Thái Lan, Lào, vào Việt Nam qua Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo theo trục Quốc lộ 9 và kết nối thẳng về cảng biển Đà Nẵng và cảng Cửa Việt.
- Hành lang Quốc lộ 8 và Quốc lộ 12A: Kết nối tiểu vùng Bắc Trung Bộ với Lào và Đông Bắc Thái Lan qua Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo (Hà Tĩnh) và Cha Lo (Quảng Bình) về cảng Vũng Áng và cảng Hòn La.
- Hành lang Quốc lộ 14B và Quốc lộ 14D: Kết nối thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam với Nam Lào qua Cửa khẩu quốc tế Nam Giang.
- Các hành lang kết nối Duyên hải Nam Trung Bộ với Tây Nguyên: Trục Quốc lộ 19 (Quy Nhơn - Pleiku - Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh sang Campuchia), Quốc lộ 24 (Quảng Ngãi - Kon Tum - Cửa khẩu quốc tế Bờ Y), cùng các trục Quốc lộ 25, Quốc lộ 26, Quốc lộ 27 nối các tỉnh Nam Trung Bộ với Đắk Lắk và Lâm Đồng.
Thực trạng phát triển các ngành kinh tế trọng điểm
1. Công nghiệp chế biến chế tạo, lọc hóa dầu và luyện kim
Công nghiệp của vùng đã có bước phát triển đột phá về chiều sâu thông qua sự hình thành của các siêu dự án công nghiệp nền tảng. Khu liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) và Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi) cung ứng phần lớn nhu cầu nhiên liệu xăng dầu cho thị trường cả nước. Khu liên hợp luyện gang thép Formosa Vũng Áng (Hà Tĩnh) và tổ hợp sản xuất thép Hòa Phát Dung Quất (Quảng Ngãi) tạo lập năng lực cung ứng phôi thép, thép cuộn cán nóng quy mô hàng chục triệu tấn mỗi năm. Tại Quảng Nam, Khu phức hợp sản xuất cơ khí và ô tô Chu Lai đã phát triển thành trung tâm lắp ráp ô tô và sản xuất linh kiện phụ tùng hàng đầu Việt Nam, thúc đẩy chuỗi cung ứng công nghiệp phụ trợ trong khu vực.
2. Năng lượng tái tạo và năng lượng sạch
Nhờ tài nguyên nắng gió dồi dào với số giờ nắng trung bình từ 2.500 đến 3.000 giờ/năm và tốc độ gió ven biển đạt chuẩn thương mại, các tỉnh duyên hải miền Trung, đặc biệt là Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Trị, Bình Định và Khánh Hòa, đã chuyển mình mạnh mẽ thành những trung tâm năng lượng tái tạo hàng đầu quốc gia. Hàng loạt trang trại điện gió trên bờ, điện mặt trời mặt đất và trên hồ thủy điện, cùng các dự án thủy điện tích năng và quy hoạch điện gió ngoài khơi đã được triển khai, đóng góp quan trọng vào tiến trình chuyển dịch năng lượng xanh và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng không vào giữa thế kỷ.
3. Du lịch biển đảo và văn hóa di sản
Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ sở hữu tài nguyên du lịch phong phú bậc nhất cả nước, là nơi hội tụ các Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới được UNESCO vinh danh (Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quần thể di tích Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Đô thị cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn). Chuỗi đô thị du lịch biển nổi tiếng kéo dài liên tục từ Sầm Sơn, Cửa Lò, Lăng Cô, Đà Nẵng, Hội An, Quy Nhơn, Nha Trang đến Mũi Né tạo nên thương hiệu du lịch nghỉ dưỡng biển đảo hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế.
Nghiên cứu của Thoa và Hùng (2025) trên Tạp chí Khoa học Đại học Huế ứng dụng chỉ số Moran's I chỉ ra rằng mức độ tương quan không gian trong phát triển du lịch giữa các tỉnh duyên hải miền Trung đang gia tăng rõ nét, song sự phụ thuộc không gian vẫn tập trung nhiều ở các cực hạt nhân như Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, đòi hỏi sự kết nối chuỗi sản phẩm đồng bộ giữa các địa phương lân cận để tránh phân mảnh thị trường.
4. Khai thác và nuôi trồng thủy hải sản
Ngành thủy sản là sinh kế truyền thống gắn liền với hàng triệu cư dân ven biển. Đội tàu đánh bắt xa bờ của các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận hoạt động thường xuyên trên các ngư trường lớn ở Hoàng Sa, Trường Sa và nhà giàn DK1. Sản phẩm cá ngừ đại dương của Phú Yên và Bình Định đã xây dựng được thương hiệu xuất khẩu giá trị cao sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hoa Kỳ và châu Âu. Hoạt động nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm hùm lồng và hải sản có vỏ trên các vịnh, đầm phá ven biển ngày càng ứng dụng công nghệ nuôi tuần hoàn nhằm bảo vệ môi trường biển.
Thách thức về biến đổi khí hậu, thiên tai và tính phân tán không gian
Mặc dù sở hữu tiềm năng kinh tế vượt trội, vùng duyên hải miền Trung luôn là khu vực chịu tổn thương nặng nề nhất cả nước trước tác động tiêu cực của thiên tai và biến đổi khí hậu:
1. Thiên tai bão lũ, sạt lở và tính biến động thời tiết cực đoan
Miền Trung nằm trực diện trên đường di chuyển của các cơn bão nhiệt đới hình thành từ Tây Thái Bình Dương và Biển Đông. Hàng năm, vùng hứng chịu từ 4 đến 6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây mưa đặc biệt lớn. Điển hình như đợt mưa lũ lịch sử vào tháng 10 năm 2020 tại dải Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ, nghiên cứu của Luu và cộng sự (2021) trên tạp chí Climatic Change đã chỉ ra rằng biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm gia tăng cường độ và tần suất mưa lớn kỷ lục tại miền Trung, kích hoạt các hiện tượng sạt lở đất nghiêm trọng tại vùng núi phía tây và ngập lụt kéo dài tại vùng đồng bằng ven biển.
2. Hạn hán, hoang mạc hóa và xâm nhập mặn
Trong khi khu vực Bắc Trung Bộ thường xuyên đối mặt với bão lũ thì dải cực Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận) lại thường xuyên bị đe dọa bởi tình trạng hạn hán kéo dài và hoang mạc hóa cồn cát. Nghiên cứu thực nghiệm của Tran và cộng sự (2022) trên Environmental Challenges nhấn mạnh mức độ dễ bị tổn thương sinh kế của các cộng đồng nông dân trước các chu kỳ biến đổi khí hậu và thiếu hụt nguồn nước mặt. Khi dòng chảy sông ngòi suy giảm vào mùa khô, hiện tượng nêm mặn lấn sâu vào các cửa sông gây suy thoái nguồn nước sinh hoạt và hủy hoại đất canh tác nông nghiệp ven biển.
3. Báo cáo đánh giá của các tổ chức quốc tế về tài sản ven biển
Báo cáo của World Bank (2022) về tăng cường khả năng chống chịu cho các nền kinh tế ven biển Việt Nam khẳng định rằng các mô hình phát triển ven biển tại miền Trung nếu chỉ dựa vào khai thác tài nguyên tự nhiên thiếu quy hoạch sẽ làm suy thoái nghiêm trọng các hệ sinh thái bảo vệ bờ biển như rừng ngập mặn và rạn san hô, làm tăng chi phí ứng phó thiên tai và đe dọa tính bền vững lâu dài của các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng.
4. Những điểm nghẽn về cấu trúc liên kết không gian
Bên cạnh yếu tố tự nhiên, kinh tế vùng còn đối diện với nhiều rào cản nội tại:
- Tính chia cắt lãnh thổ và chi phí vận tải: Địa hình đồi núi lan sát biển và khoảng cách địa lý kéo dài làm tăng cước phí vận chuyển hàng hóa nội vùng.
- Hiện tượng cạnh tranh cục bộ giữa các địa phương: Tình trạng phát triển thiếu phối hợp dẫn đến sự trùng lắp cơ cấu kinh tế: hầu hết các tỉnh đều xây dựng cảng biển, sân bay, khu kinh tế ven biển nhưng nhiều nơi công suất khai thác còn thấp, thiếu chân hàng container ổn định và thiếu các doanh nghiệp chế biến sâu quy mô lớn.
- Mối liên kết chuỗi giá trị chưa bền chặt: Mối liên kết giữa chuỗi sản xuất công nghiệp và vùng nguyên liệu nông lâm nghiệp nội địa, cũng như liên kết giữa các tỉnh duyên hải với hậu phương Tây Nguyên còn mang tính rời rạc.
Định hướng quy hoạch phát triển và liên kết vùng đến năm 2030, tầm nhìn 2045
Để hiện thực hóa khát vọng phát triển vùng duyên hải miền Trung thành dải kinh tế biển năng động, văn minh và bền vững, Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị (2022) và Quyết định số 376/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2024) đã vạch ra các định hướng chiến lược mang tính đột phá:
1. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cụ thể đến năm 2030
Chương trình hành động của Chính phủ ban hành theo Nghị quyết số 168/NQ-CP năm 2022 và Quy hoạch vùng tại Quyết định số 376/QĐ-TTg năm 2024 đã xác định các chỉ tiêu cụ thể:
- Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của toàn vùng giai đoạn 2021 - 2030 phấn đấu đạt từ 7,5% đến 8%/năm (theo Nghị quyết 26-NQ/TW đạt khoảng 7% đến 7,5%/năm), nâng quy mô GRDP năm 2030 tăng gấp 2,5 đến 3 lần so với năm 2020.
- Đến năm 2030, GRDP bình quân đầu người của vùng đạt khoảng 156 triệu đồng/người/năm.
- Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP vùng phấn đấu đạt khoảng 30%.
- Cơ cấu kinh tế vùng đến năm 2030 chuyển dịch mạnh theo hướng hiện đại: khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 40% đến 41% (theo Nghị quyết 168/NQ-CP là 40,7%); khu vực dịch vụ chiếm khoảng 38% đến 39% (theo Nghị quyết 168/NQ-CP là 37,5%); khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm còn khoảng 10% đến 11% (theo Nghị quyết 168/NQ-CP là 11,5%).
2. Tái cấu trúc không gian kinh tế biển theo cụm ngành và hành lang
Quy hoạch vùng xác định chuyển đổi từ mô hình phát triển dàn đều theo ranh giới hành chính từng tỉnh sang mô hình phát triển tập trung theo các cực tăng trưởng và các cụm ngành kinh tế biển chuyên biệt hóa cao:
- Tập trung đầu tư hoàn thiện các cảng biển cửa ngõ quốc tế và cụm cảng nước sâu loại đặc biệt và loại I, đặc biệt là dự án bến cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng), nâng cấp luồng hàng hải vào cảng Quy Nhơn, Dung Quất, Nghi Sơn và Vũng Áng.
- Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành trung tâm tài chính quốc tế quy mô khu vực, trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và trung tâm công nghiệp công nghệ cao, đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt tiểu vùng Trung Trung Bộ.
- Phát triển hành lang kinh tế ven biển gắn liền với cao tốc Bắc - Nam và đường bộ ven biển, hình thành chuỗi đô thị thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu, có bản sắc kiến trúc hòa hợp với thiên nhiên.
- Đẩy mạnh triển khai các tuyến giao thông kết nối Đông - Tây sang Tây Nguyên và các nước láng giềng nhằm phát huy tối đa vai trò cửa ngõ hàng hóa quốc tế.
3. Đổi mới thể chế điều phối và nâng cao năng lực chống chịu khí hậu
Một trong những nhiệm vụ cốt lõi là hoàn thiện cơ chế hoạt động của Hội đồng điều phối vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ, bảo đảm tính thực quyền trong việc điều tiết ngân sách phân bổ cho các công trình liên tỉnh, quy hoạch chung hệ sinh thái công nghiệp và xúc tiến đầu tư quy mô toàn vùng. Song song với phát triển kinh tế, vùng tập trung các nguồn lực ngân sách và hợp tác quốc tế để đầu tư các công trình kè biển chống xói lở, hồ chứa thủy lợi điều tiết đa mục tiêu, trồng rừng ngập mặn phòng hộ ven biển và hiện đại hóa hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn thông minh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và thịnh vượng đến năm 2045.