Cảm biến nhiệt độ là thiết bị chuyển đổi năng lượng nhiệt từ môi trường hoặc vật thể cần quan trắc thành tín hiệu điện hoặc tín hiệu quang học có thể đo lường và xử lý định lượng. Thiết bị này đóng vai trò then chốt trong các hệ thống tự động hóa công nghiệp, nghiên cứu khoa học thực nghiệm, thiết bị y tế chẩn đoán và công nghệ điện tử tiêu dùng.
Bản chất vật lý và thang đo nhiệt độ quốc tế ITS-90
Nhiệt độ là một đại lượng vật lý đặc trưng cho động năng trung bình của chuyển động nhiệt hỗn loạn của các hạt vi mô cấu tạo nên vật chất. Để đảm bảo tính đồng nhất và liên kết chuẩn đo lường trên toàn cầu, Ủy ban Quốc tế về Cân đo (CIPM) thông qua H. Preston-Thomas (1990) đã thiết lập Thang nhiệt độ quốc tế năm 1990 (ITS-90). Thang đo ITS-90 xác định nhiệt độ nhiệt động lực học trong dải từ 0.65 K đến 1357.77 K dựa trên một loạt các điểm chuyển pha cố định không đổi của các chất nguyên chất như điểm ba trạng thái của khí hiếm neon, oxy, nước và điểm đông đặc của các kim loại chì, kẽm, bạc, vàng.
Các cảm biến nhiệt độ hiện đại được hiệu chuẩn dựa trên các điểm chuẩn này nhằm đảm bảo tính truy nguyên đo lường và khả năng tương thích của dữ liệu đo đạc giữa các phòng thí nghiệm và cơ sở công nghiệp.
Phân loại và nguyên lý hoạt động của các họ cảm biến nhiệt độ
Theo tổng quan của P. R. N. Childs, J. R. Greenwood và C. A. Long (2000), các phương pháp đo nhiệt độ được phân chia thành hai nhóm chính là đo tiếp xúc trực tiếp và đo không tiếp xúc qua bức xạ nhiệt, bao phủ dải nhiệt độ rộng lớn từ -270 °C ở điều kiện siêu lạnh nhiệt độ thấp đến trên 3000 °C trong các lò luyện kim công nghiệp cao tần:
| Loại cảm biến | Hiệu ứng vật lý chuyển đổi | Dải đo nhiệt độ thông dụng | Đặc điểm nổi bật |
|---|---|---|---|
| Nhiệt điện trở kim loại (RTD) | Sự thay đổi điện trở suất của kim loại nguyên chất | Từ -200 °C đến 850 °C | Độ chính xác rất cao, độ tuyến tính tốt, độ ổn định dài hạn vượt trội. |
| Cặp nhiệt điện (Thermocouple) | Hiệu ứng nhiệt điện Seebeck tại mối nối hai kim loại | Từ -200 °C đến 1800 °C | Dải đo nhiệt độ rất rộng, kết cấu cơ học bền bỉ, thời gian đáp ứng nhiệt nhanh. |
| Nhiệt điện trở bán dẫn (Thermistor NTC/PTC) | Biến thiên nồng độ hạt dẫn tự do trong oxit gốm bán dẫn | Từ -50 °C đến 150 °C | Độ nhạy nhiệt độ cực cao, kích thước vi mô, giá thành chế tạo thấp. |
| Cảm biến bán dẫn tích hợp (IC nhiệt độ) | Đặc tính phụ thuộc nhiệt của điện áp tiếp giáp p-n | Từ -55 °C đến 125 °C | Xuất trực tiếp tín hiệu số, dễ dàng tích hợp vào vi mạch vi xử lý. |
| Cảm biến cách tử sợi quang (FBG) | Sự dịch chuyển bước sóng phản xạ Bragg trong sợi quang | Từ -200 °C đến 600 °C | Miễn nhiễm hoàn toàn với nhiễu điện từ, khả năng ghép kênh đo phân bố. |
Cảm biến nhiệt điện trở kim loại (RTD) và phương trình Callendar-Van Dusen
Cảm biến RTD hoạt động dựa trên hiện tượng điện trở thuần của kim loại tăng khi nhiệt độ tăng do sự tán xạ của electron dẫn trên các dao động mạng tinh thể ion dương. Platin là vật liệu tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi nhất (cảm biến Pt100 có điện trở danh định 100 ôm tại 0 °C) nhờ tính trơ hóa học, độ tinh khiết cao và dải nhiệt độ làm việc rộng.
Mối quan hệ giữa điện trở và nhiệt độ của cảm biến platin được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế thông qua phương trình đa thức Callendar-Van Dusen:
Đối với dải nhiệt độ dương từ 0 °C đến 850 °C:
Trong đó:
- là điện trở đo được của cảm biến tại nhiệt độ cần xác định.
- là điện trở danh định của cảm biến tại nhiệt độ chuẩn không độ C.
- là nhiệt độ đo tính bằng thang độ Celsius.
- và là các hệ số nhiệt điện trở thực nghiệm của vật liệu platin tiêu chuẩn.
Nhiệt điện trở bán dẫn (Thermistor) và phương trình Steinhart-Hart
Nhiệt điện trở hệ số nhiệt âm NTC được chế tạo từ các khối gốm oxit kim loại bán dẫn đa tinh thể thiêu kết. Khi nhiệt độ tăng, các liên kết hóa trị bị bẻ gãy giải phóng thêm các hạt dẫn tự do electron và lỗ trống, làm giảm mạnh điện trở suất của vật liệu.
Mặc dù quan hệ giữa điện trở và nhiệt độ của thermistor mang tính phi tuyến mạnh mẽ, John S. Steinhart và Stanley R. Hart (1968) đã đề xuất phương trình xấp xỉ đa thức logarit bậc ba có độ chính xác rất cao:
Trong đó:
- là nhiệt độ tuyệt đối tính bằng thang độ Kelvin.
- là điện trở tức thời của nhiệt điện trở đo được tại nhiệt độ tương ứng.
- là logarit tự nhiên của giá trị điện trở cảm biến.
- , , là các hệ số hiệu chuẩn Steinhart-Hart xác định qua ba điểm nhiệt độ chuẩn thực nghiệm.
Phương trình này cho phép tính toán nhiệt độ với sai số tuyệt đối nhỏ hơn 0.01 K trong phạm vi làm việc của cảm biến.
Cặp nhiệt điện và cơ chế hiệu ứng nhiệt điện Seebeck
Cặp nhiệt điện gồm hai dây dẫn kim loại hoặc hợp kim khác nhau được hàn chập tại một đầu gọi là mối nối đo. Khi có sự chênh lệch nhiệt độ giữa mối nối đo và mối nối chuẩn so sánh, một suất điện động nhiệt điện xuất hiện giữa hai đầu hở dựa trên hiệu ứng Seebeck. Suất điện động nhiệt điện ký hiệu là phụ thuộc vào hiệu số nhiệt độ giữa đầu nóng và đầu lạnh cùng hệ số Seebeck tương đối giữa hai vật liệu:
Trong đó:
- là suất điện động nhiệt điện sinh ra giữa hai cực đầu ra.
- là hệ số Seebeck vi phân tương đối giữa kim loại A và kim loại B phụ thuộc nhiệt độ.
- là nhiệt độ tại mối nối chuẩn điểm lạnh.
- là nhiệt độ cần đo tại mối nối tiếp xúc nhiệt.
Để đạt kết quả đo chính xác, hệ thống đo lường bắt buộc phải tích hợp mạch bù nhiệt độ mối nối lạnh hoặc sử dụng cảm biến bán dẫn phụ trợ để đo chính xác nhiệt độ tại trạm đấu nối dây.
Cảm biến nhiệt độ bán dẫn CMOS thông minh
Sự phát triển của công nghệ vi điện tử cho phép tích hợp trực tiếp cảm biến nhiệt độ cùng mạch khuếch đại, bộ biến đổi tương tự - số và giao diện truyền thông số (I2C, SPI) trên cùng một đế silicon. Michiel A. P. Pertijs, Kofi A. A. Makinwa và Johan H. Huijsing (2005) đã phát triển kiến trúc cảm biến nhiệt độ thông minh CMOS dựa trên nguyên lý điện áp chênh lệch cực phát - cực gốc của hai transistor lưỡng cực phân cực ở mật độ dòng điện khác nhau tỷ lệ thuận với nhiệt độ tuyệt đối PTAT. Hệ thống này đạt độ không đảm bảo đo ba độ lệch chuẩn chỉ 0.1 °C trên toàn dải nhiệt độ từ -55 °C đến 125 °C mà không cần quy trình hiệu chuẩn phức tạp từng con chip.
Cảm biến quang học sợi quang và cảm biến dẻo sinh học
Trong môi trường có nguy cơ cháy nổ cao hoặc chịu ảnh hưởng của trường điện từ mạnh từ đường dây cao thế và máy chụp cộng hưởng từ, cảm biến quang học cách tử sợi quang Bragg (FBG) là giải pháp tối ưu. Alan D. Kersey và cộng sự (1997) đã phân tích chi tiết cơ chế dịch chuyển bước sóng Bragg phản xạ khi nhiệt độ thay đổi do sự giãn nở nhiệt của thủy tinh silica và hiệu ứng quang nhiệt. Với độ nhạy bước sóng khoảng 10 pm/°C tại dải bước sóng quang học 1550 nm, cảm biến FBG cho phép giám sát nhiệt độ phân bố trên tuyến cáp quang kéo dài hàng chục kilomet.
Bên cạnh đó, Tran Quang Trung và Nae-Eung Lee (2016) đã tổng kết bước tiến của các cảm biến nhiệt độ mềm dẻo có thể co giãn dựa trên vật liệu nano carbon như ống nano carbon graphene và polymer dẫn điện. Các thiết bị này có khả năng dán trực tiếp lên da người hoặc cấy ghép sinh học để theo dõi liên tục sự biến thiên thân nhiệt trong dải sinh học từ 20 °C đến 50 °C mà không gây cản trở cử động cơ thể.
Các yếu tố gây sai số và lưu ý kỹ thuật khi lắp đặt cảm biến
Để đảm bảo độ tin cậy và độ chính xác của kết quả đo lường nhiệt độ trong thực tế kỹ thuật, cần kiểm soát các nguồn sai số vật lý cơ bản sau:
- Hiệu ứng tự phát nhiệt: Khi dòng điện kích thích chạy qua cảm biến RTD hoặc thermistor để đo điện trở, năng lượng tiêu tán dưới dạng nhiệt lượng Joule làm nóng phần tử cảm biến, dẫn đến số đo nhiệt độ hiển thị cao hơn nhiệt độ thực của môi trường. Cần giới hạn dòng đo dưới mức một miliampe.
- Điện trở dây dẫn nối: Trong cảm biến RTD trở kháng thấp, điện trở của dây cáp tín hiệu cộng dồn trực tiếp vào điện trở cảm biến. Kỹ thuật mạch cầu Wheatstone ba dây hoặc đo bốn dây dùng nguồn dòng độc lập bắt buộc phải được áp dụng để triệt tiêu hoàn toàn sai số do chiều dài dây dẫn gây ra.
- Trễ nhiệt và hằng số thời gian: Khối lượng nhiệt của ống bảo vệ vỏ kim loại làm chậm quá trình truyền nhiệt từ môi trường vào phần tử nhạy nhiệt bên trong. Hằng số thời gian nhiệt cần được tính toán phù hợp với tốc độ biến thiên nhiệt độ của hệ thống điều khiển tự động.