
Springer Science and Business Media LLC
SCOPUS (2004-2023)SCIE-ISI
1742-6405
Cơ quản chủ quản: BMC , BioMed Central Ltd.
Các bài báo tiêu biểu
The neurofilament is a major structural component of myelinated axons. Increased cerebrospinal fluid (CSF) concentrations of the light chain of the neurofilament protein (NFL) can serve as a sensitive indicator of central nervous system (CNS) injury. To assess whether interrupting antiretroviral treatment of HIV infection might have a deleterious effect on the CNS, we measured NFL levels in HIV-infected subjects interrupting therapy.
We identified subjects who had CSF HIV RNA concentrations below 50 copies/mL at the time combination antiretroviral therapy was interrupted, and for whom CSF samples were available before and after the interruption.
A total of 8 subjects were studied. The median (range) CSF NFL level at baseline was <125 (<125–220) ng/L (normal <250 ng/L). All 8 subjects exhibited an increase in CSF and plasma HIV RNA after stopping therapy, accompanied by intrathecal immunoactivation as evidenced by CSF lymphocytic pleocytosis (7/8 patients) and increased CSF neopterin concentration (5/6 patients). Three subjects showed a consistent increase in CSF NFL, rising from <125 ng/L to a maximum of 880 (at day 148), 1,010 (day 58) and 10,930 ng/L (day 101). None exhibited new neurological symptoms or signs, or experienced functional deterioration during the period off treatment; of 5 who underwent brief quantitative neurological testing, none showed worsening performance.
These findings suggest that resurgence of active HIV replication may result in measurable, albeit subclinical, CNS injury. Further studies are needed to define the frequency and pathobiological importance of the increase in CSF NFL.
Việc sử dụng liệu pháp kháng retrovirus phối hợp (cART) đã trở thành tiêu chuẩn chăm sóc cho việc điều trị nhiễm HIV. Tuy nhiên, chi phí và sự kháng thuốc với cART là những rào cản lớn đối với việc tiếp cận điều trị, đặc biệt ở những nơi có nguồn lực hạn chế. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã đặt mục tiêu xác định tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ gây thất bại trong điều trị ở một nhóm bệnh nhân nhiễm HIV người Thái chưa qua điều trị.
Một nghiên cứu hồi cứu đã được thực hiện trên các bệnh nhân nhiễm HIV bắt đầu liệu pháp cART đầu tiên tại Bệnh viện Đại học Chiang Mai, Thái Lan.
Từ tháng 1 năm 2002 đến tháng 12 năm 2008, 788 bệnh nhân đã được tuyển vào; 365 người là nam (46,3%), và độ tuổi trung bình là 37,9 ± 8,6 năm. Số lượng CD4 cơ bản trung vị là 57,7 tế bào/mm3 (IQR 22, 127). GPO-VIR® (hỗn hợp liều cố định của lamivudine, stavudine và nevirapine) là cART được kê đơn phổ biến nhất (657 bệnh nhân, 83,4%). Bảy mươi sáu bệnh nhân phát triển thất bại vi rút với tỷ lệ mắc tích lũy là 9,6%. Tỷ lệ mắc thất bại vi rút là 2,79 (95% CI 2,47, 3,14) trường hợp trên 100 năm người. Tuân thủ kém là dự đoán mạnh nhất cho thất bại vi rút. Trong số 535 bệnh nhân có thể đánh giá miễn dịch, 179 (33,5%) bệnh nhân phát triển thất bại miễn dịch. Số lượng tế bào CD4 thấp ở thời điểm đầu (< 100 tế bào/mm3) và sự gia tăng số lượng tế bào CD4 < 50 tế bào/mm3 sau 6 tháng cART là các yếu tố dự đoán cho thất bại miễn dịch (p < 0,001).
Nghiên cứu này cho thấy rằng ngay cả ở những nơi có nguồn lực hạn chế, tỷ lệ thành công cao có thể được mong đợi ở nhóm bệnh nhân có tuân thủ thuốc tốt và bền vững. Tuân thủ kém, độ tuổi lớn hơn và số lượng tế bào CD4 cơ bản thấp là các yếu tố dự đoán cho kết quả không thuận lợi của cART.