thumbnail

Springer Science and Business Media LLC

ESCI-ISI SCOPUS (2008-2023)

 

  1756-0500

 

Cơ quản chủ quản:  Springer Nature , BioMed Central Ltd.

Lĩnh vực:
Medicine (miscellaneous)Biochemistry, Genetics and Molecular Biology (miscellaneous)

Các bài báo tiêu biểu

ACPYPE - AnteChamber PYthon Parser interfacE Dịch bởi AI
Tập 5 Số 1 - 2012
Alan Wilter, Wim Vranken
Tóm tắt Đặt vấn đề

ACPYPE (hay AnteChamber PYthon Parser interfacE) là một script bọc quanh phần mềm ANTECHAMBER giúp đơn giản hóa việc tạo ra các topology và tham số phân tử nhỏ cho nhiều chương trình động lực phân tử như GROMACS, CHARMM và CNS. Nó được viết bằng ngôn ngữ lập trình Python và được phát triển như một công cụ để kết nối với các ứng dụng khác dựa trên Python như bộ phần mềm CCPN (cho phân tích dữ liệu NMR) và ARIA (cho tính toán cấu trúc từ dữ liệu NMR). ACPYPE là mã nguồn mở, theo giấy phép GNU GPL v3, và có sẵn như một ứng dụng độc lập tại http://www.ccpn.ac.uk/acpype và như một ứng dụng cổng web tại http://webapps.ccpn.ac.uk/acpype.

Kết quả

Chúng tôi đã xác minh các topology được tạo ra bởi ACPYPE theo ba cách: so sánh với các topology AMBER mặc định cho các axit amin tiêu chuẩn; tạo ra và xác minh topology cho một tập hợp lớn các ligand từ PDB; và tính lại cấu trúc cho 5 phức hợp protein-ligand từ PDB.

Kết luận

ACPYPE là một công cụ giúp đơn giản hóa việc tự động tạo ra topology và tham số trong các định dạng khác nhau cho các chương trình cơ học phân tử khác nhau, bao gồm tính toán điện tích phân phần, trong khi vẫn hướng đối tượng để dễ dàng tích hợp với các ứng dụng khác.

What is the normal value of the neutrophil-to-lymphocyte ratio?
- 2017
Patrice Forget, Céline Khalifa, Jean‐Philippe Defour, Dominique Latinne, Marie Cécile Van Pel, Marc De Kock
The clinical case report: a review of its merits and limitations
Tập 7 Số 1 - 2014
Trygve Nissen, Rolf Wynn
OntoFox: web-based support for ontology reuse
- 2010
Zuoshuang Xiang, Mélanie Courtot, Ryan R. Brinkman, Alan Ruttenberg, Yongqun He
The validation of Fitbit Zip™ physical activity monitor as a measure of free-living physical activity
- 2014
Mark A. Tully, Cairmeal McBride, Leonnie Heron, Ruth F. Hunter
Antimicrobial resistance in hospitalized surgical patients: a silently emerging public health concern in Uganda
Tập 6 - Trang 1-7 - 2013
Jeremiah Seni, Christine F Najjuka, David P Kateete, Patson Makobore, Moses L Joloba, Henry Kajumbula, Antony Kapesa, Freddie Bwanga
Surgical site infections (SSIs) are difficult to treat and are associated with substantially longer hospital stay, higher treatment cost, morbidity and mortality, particularly when the etiological agent is multidrug-resistant (MDR). To address the limited data in Uganda on SSIs, we present the spectrum of bacteria isolated from hospitalized patients, the magnitude and impact of MDR bacterial isolates among patients with SSIs. A descriptive cross sectional study was conducted from September 2011 through April 2012 involving 314 patients with SSIs in the obstetrics & gynecology, general surgery and orthopedic wards at Mulago National Hospital in Kampala, Uganda. Wound swabs were taken and processed using standard microbiological methods. Clinico-demographic characteristics of patients were obtained using structured questionnaires and patients’ files. Of the 314 enrolled patients with SSIs (mean age 29.7 ±13.14 years), 239 (76.1%) were female. More than half of the patients were from obstetrics and gynecology (62.1%, 195/314). Of 314 wound swabs taken, 68.8% (216/314) were culture positive aerobically, yielding 304 bacterial isolates; of which 23.7% (72/304) were Escherichia coli and 21.1% (64/304) were Staphylococcus aureus. More than three quarters of Enterobacteriaceae were found to be extended spectrum beta lactamase (ESBL) producers and 37.5% of S. aureus were Methicillin resistant S. aureus (MRSA). MDR occurred in 78.3% (238/304) of the isolates; these were more among Gram-negative bacteria (78.6%, 187/238) compared to Gram-positive bacteria (21.4%, 51/238), (p-value < 0.0001, χ2 = 49.219). Amikacin and imepenem for ESBL-producing Enterobacteriacea and vancomycin for MRSA showed excellent performance except that they remain expensive drugs in Uganda. Most SSIs at Mulago National Hospital are due to MDR bacteria. Isolation of MRSA and ESBL-producing Enterobacteriaceae in higher proportions than previously reported calls for laboratory guided SSIs- therapy and strengthening of infection control surveillance in this setting.
Reliability and validity of the Japanese version of the Resilience Scale and its short version
Tập 3 Số 1 - 2010
Daisuke Nishi, Ritei Uehara, Maki Kondo, Yutaka Matsuoka
Bệnh nhân ung thư trên Twitter: một cộng đồng bệnh nhân mới trên mạng xã hội Dịch bởi AI
- 2012
Yuya Sugawara, Hiroto Narimatsu, Atsushi Hozawa, Li Shao, Katsumi Otani, Akira Fukao
Tóm tắt Đặt vấn đề

Các bệnh nhân ngày càng tìm kiếm thông tin trên Internet về các tình trạng y tế, bao gồm tin tức lâm sàng và các phương pháp điều trị. Trong những năm gần đây, một cộng đồng bệnh nhân trực tuyến đã ra đời bên cạnh thế giới mạng xã hội đang phát triển nhanh chóng, hay còn gọi là “Web 2.0.” Twitter cung cấp việc truyền tải tin tức, thông tin, trải nghiệm cá nhân và các chi tiết khác theo thời gian thực thông qua một hình thức mạng xã hội tương tác cao, và đã trở thành một công cụ trực tuyến quan trọng cho các bệnh nhân. Phương tiện này hiện được coi là đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng xã hội hiện đại của các bệnh nhân ung thư trực tuyến, “có kết nối.”

Kết quả

Năm mươi một “tài khoản quyền lực” có ảnh hưởng cao thuộc về các bệnh nhân ung thư đã được trích xuất từ một bộ dữ liệu gồm 731 tài khoản Twitter có thuật ngữ ung thư trong hồ sơ của họ. Theo phương pháp đã được thiết lập trước đó, “tài khoản quyền lực” được định nghĩa là những tài khoản Twitter có 500 người theo dõi trở lên. Chúng tôi đã trích xuất dữ liệu về bệnh nhân ung thư (nữ) có nhiều người theo dõi nhất để nghiên cứu các mối quan hệ cụ thể giữa người dùng và những người theo dõi cô ấy, và nhận thấy rằng phần lớn các tweet được khảo sát tập trung vào lời chào, các cuộc thảo luận về điều trị, và những trường hợp hỗ trợ tâm lý khác. Những phát hiện này đã đi ngược lại giả thuyết của chúng tôi rằng các tweet của bệnh nhân ung thư sẽ xoay quanh việc truyền tải thông tin y tế và các chi tiết “tin tức” tương tự.

Kết luận

Hiện tại, tồn tại một mạng lưới đang phát triển nhanh chóng của các bệnh nhân ung thư tham gia vào việc trao đổi thông tin qua Twitter. Mạng lưới này có giá trị trong việc chia sẻ hỗ trợ tâm lý giữa cộng đồng bệnh nhân ung thư.

Actigraphic registration of motor activity reveals a more structured behavioural pattern in schizophrenia than in major depression
Tập 3 Số 1 - 2010
Jan Øystein Berle, Erik R. Hauge, Ketil J. Øedegaard, Fred Holsten, Ole Bernt Fasmer