Từ điển học thuật Khoa học y - dược

Thiếu năng lượng trường diễn là gì? Các công bố khoa học về Thiếu năng lượng trường diễn

Tiếng Anhchronic energy deficiency

Tên gọi khácCEDsuy dinh dưỡng năng lượng trường diễn

Thiếu năng lượng trường diễn (Chronic Energy Deficiency, CED) là tình trạng dinh dưỡng kém mạn tính do khẩu phần ăn không cung cấp đủ năng lượng duy trì hoạt động và thể trạng bình thường trong thời gian dài, được xác định khi chỉ số khối cơ thể (BMI) ở người trưởng thành dưới 18,5 kg/m².

351 lượt xem Cập nhật 24/8/2026

Thiếu năng lượng trường diễn (chronic energy deficiency) là Thiếu năng lượng trường diễn (Chronic Energy Deficiency, CED) là tình trạng dinh dưỡng kém mạn tính do khẩu phần ăn không cung cấp đủ năng lượng duy trì hoạt động và thể trạng bình thường trong thời gian dài, được xác định khi chỉ số khối cơ thể (BMI) ở người trưởng thành dưới 18,5 kg/m².

Thiếu năng lượng trường diễn là tình trạng khi một đối tượng hoặc hệ thống không có đủ năng lượng (cơ học, điện, từ,…) để duy trì một trường diễn. Khi thiếu năng lượng, trạng thái của trường diễn có thể suy giảm hoặc ngừng hoạt động. Thiếu năng lượng trường diễn có thể xảy ra trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Dưới đây là một số ví dụ về thiếu năng lượng trường diễn trong các lĩnh vực khác nhau:

1. Thiếu năng lượng điện trong một mạch điện: Trong mạch điện, trường điện được tạo ra bởi các dòng điện chảy qua dây dẫn. Nếu mạch không có đủ năng lượng điện để tạo ra các dòng điện, trường điện trong mạch sẽ yếu hoặc không tồn tại.

2. Thiếu năng lượng cơ học trong một trường lực: Trong cơ học, các trường lực được tạo ra bởi sự tương tác giữa các vật thể. Nếu một hệ thống không có đủ năng lượng cơ học để duy trì trường lực, trường lực sẽ không còn có hiệu lực.

3. Thiếu năng lượng từ trong một trường từ: Trong điện từ học, các trường từ được tạo ra bởi sự tương tác giữa các dòng điện và từ trường. Nếu một hệ thống không cung cấp đủ năng lượng để duy trì trường từ, trường từ sẽ suy giảm hoặc ngừng hoạt động.

4. Thiếu năng lượng trong một trường ánh sáng: Trong quang học, trường ánh sáng là sự kết hợp của trường điện và từ trường. Nếu một nguồn ánh sáng không đủ năng lượng để tạo ra trường ánh sáng, điều này có thể dẫn đến sự giảm sáng hoặc tắt đi.

Trạng thái thiếu năng lượng trường diễn có thể gây ra những hiện tượng không mong muốn và ảnh hưởng đến hoạt động của các hệ thống và quá trình. Do đó, cung cấp đủ năng lượng để duy trì trường diễn là một yếu tố quan trọng trong các ứng dụng và nguyên lý vật lý. Trạng thái thiếu năng lượng trường diễn có thể xảy ra trong các hệ thống và quá trình không thể duy trì mức năng lượng cần thiết để tạo ra và duy trì trường diễn. Điều này thường xảy ra khi nguồn cấp năng lượng không đủ hoặc bị gián đoạn.

Ví dụ, trong mạch điện, năng lượng điện cung cấp cho các dòng điện trong mạch. Nếu nguồn cấp không cung cấp đủ điện áp hoặc dòng điện, trường điện trong mạch sẽ yếu hoặc không còn tồn tại. Điều tương tự cũng áp dụng cho các mạch từ, nơi một nguồn cấp năng lượng không đủ có thể làm mất đi từ trường.

Trường ánh sáng cũng có thể trở nên thiếu năng lượng nếu nguồn sáng không cung cấp đủ điện năng để hoạt động. Khi đèn trong một phòng bị hỏng hoặc mất năng lượng, trường ánh sáng trong phòng sẽ mất đi, dẫn đến tình trạng thiếu năng lượng trường diễn.

Trạng thái thiếu năng lượng trường diễn cũng có thể xảy ra trong các hệ thống tạo ra trường lực. Ví dụ, trong một động cơ điện, các dòng điện tạo ra trường từ cần thiết để tạo ra lực đẩy. Nếu động cơ không nhận đủ năng lượng điện, động cơ sẽ không tạo ra đủ lực để hoạt động.

Trạng thái thiếu năng lượng trường diễn có thể gây ra các vấn đề và hiện tượng không thể dự đoán trong hệ thống và quá trình. Điều quan trọng là đảm bảo rằng nguồn cấp năng lượng đáp ứng đủ cho các yêu cầu của trường diễn để đảm bảo hoạt động ổn định và đáng tin cậy.

Câu hỏi thường gặp

Thiếu năng lượng trường diễn ở người lớn được phân loại theo BMI ra sao?

Theo WHO, CED chia thành 3 mức độ: Độ I (nhẹ, BMI 17,0–18,49 kg/m²), Độ II (vừa, BMI 16,0–16,99 kg/m²) và Độ III (nặng, BMI < 16,0 kg/m²).

Hậu quả sức khỏe chính của CED là gì?

CED làm suy giảm khả năng lao động, giảm khối cơ và mỡ dự trữ, suy giảm miễn dịch làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, và ở phụ nữ mang thai làm tăng nguy cơ sinh con nhẹ cân.

Các can thiệp dinh dưỡng chính để cải thiện CED tại cộng đồng?

Bổ sung đa dạng thực phẩm giàu năng lượng và đạm, phòng chống thiếu vi chất, giáo dục dinh dưỡng và cải thiện an ninh lương thực hộ gia đình.

Các nghiên cứu khoa học về “thiếu năng lượng trường diễn”

Công bố nổi bật trên thế giới và tại Việt Nam, kèm tóm tắt theo hướng chủ đề.

Mới nhất

  • Relationship of family income and house type to body mass index and chronic energy deficiency among urban Bengalee male slum dwellers of Kolkata, India

    Raja Chakraborty và cộng sự2009HOMO- Journal of Comparative Human Biology

    AI tóm tắt

    Khảo sát nhân trắc trên 469 nam giới trưởng thành tại khu ổ chuột Dum Dum, Kolkata, Ấn Độ được thực hiện bằng thiết kế cắt ngang mô tả. Nhóm tác giả ghi nhận tỷ lệ chronic energy deficiency đạt 32,0%, thuộc ngưỡng nghiêm trọng theo chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Thu nhập hộ gia đình và loại nhà ở tương quan thuận chặt chẽ với chỉ số khối cơ thể, phản ánh tác động sâu sắc của bất bình đẳng kinh tế lên thể trạng người nghèo đô thị.

  • Body mass index and chronic energy deficiency among adult male Lodhas and Bhumijs: A comparison with other tribal populations of West Bengal, India

    Kaushik Bose và cộng sự2007Journal of Public Health

    AI tóm tắt

    Được thực hiện trên 157 người Lodha và 161 người Bhumij tại bang Tây Bengal, Ấn Độ, nghiên cứu nhân trắc so sánh đã lượng giá thể trạng hai cộng đồng bản địa. Tỷ lệ mắc chronic energy deficiency ở nam giới Lodha và Bhumij lần lượt là 45,2% và 48,4%, đều vượt ngưỡng cảnh báo nghiêm trọng của Tổ chức Y tế Thế giới. Kết quả chỉ ra tình trạng kiệt quệ dinh dưỡng phổ biến ở các bộ tộc, kêu gọi hành động can thiệp y tế khẩn cấp từ chính quyền sở tại.

  • Body Mass Index and Chronic Energy Deficiency Among Urban Bengalee Male Slum Dwellers of Kolkata, India: Relationship with Family Income

    Raja Chakraborty và cộng sự2007International Journal of Anthropology

    AI tóm tắt

    Tiến hành trên 191 nam giới trưởng thành tại các khu ổ chuột Kolkata, Ấn Độ, nghiên cứu cắt ngang đã làm rõ mối liên hệ giữa thu nhập và chỉ số thể hình. Tỷ lệ mắc chronic energy deficiency chung là 33,5%, trong đó nhóm thu nhập thấp nhất có tỷ lệ mắc vượt trội 46,6% so với 23,1% ở nhóm thu nhập cao nhất. Tác giả chỉ ra thu nhập giải thích trực tiếp mức biến thiên thể trạng, gợi ý nhu cầu kết hợp can thiệp y tế với nâng cao sinh kế.

  • Quality of life among pregnant women with chronic energy deficiency in rural Bangladesh

    Rubina Shaheen và cộng sự2006Health Policy

    AI tóm tắt

    Nhằm định lượng gánh nặng sức khỏe ở vùng nông thôn Bangladesh, tác giả đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên 236 phụ nữ sử dụng công cụ EQ-5D và thang đo VAS. Điểm chất lượng sống của thai phụ mắc chronic energy deficiency nghiêm trọng chỉ đạt 0,30 trên thang EQ-5D và 0,27 trên thang VAS. Kết quả chỉ ra tình trạng gầy mòn mạn tính làm suy giảm thể trạng tương đương các bệnh hiểm nghèo, đặt ra yêu cầu ưu tiên phòng ngừa trong y tế cộng đồng.

  • Reduced postexercise recovery oxygen consumptions: An adaptive response in chronic energy deficiency?

    R.N. Kulkarni và cộng sự1993Metabolism

    AI tóm tắt

    Dưới thiết kế thực nghiệm sinh lý học, nghiên cứu so sánh phản ứng tiêu thụ oxy phục hồi sau vận động và công suất hiếu khí tối đa ở người gầy mòn mạn tính với nhóm chứng khỏe mạnh. Đối tượng mắc chronic energy deficiency có chỉ số VO2max tuyệt đối thấp hơn cùng mức tiêu hao oxy hồi phục suy giảm rõ rệt. Sự cắt giảm này được lý giải như cơ chế thích nghi tiết kiệm năng lượng, làm sáng tỏ bản chất chuyển hóa thích ứng trước tình trạng thiếu dinh dưỡng trường diễn.

Trích dẫn nhiều nhất

  • Thực trạng thiếu năng lượng trường diễn và một số yếu tố liên quan ở sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội

    Trương Thị Thùy Dương và cộng sự2025Tạp chí Nghiên cứu Y học

    AI tóm tắt

    Đánh giá trên 2.710 sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội qua thiết kế mô tả cắt ngang nhằm phân tích thể trạng học đường. Tỷ lệ mắc thiếu năng lượng trường diễn chung là 21,8%, với độ I chiếm 15,1% và nữ giới ghi nhận 22,0%. Kiến thức dinh dưỡng kém (OR = 1,21) cùng thực hành chưa tốt (OR = 1,28) làm tăng nguy cơ gầy mòn, nhấn mạnh vai trò của truyền thông giáo dục dinh dưỡng trong trường học.

  • 55. Thực trạng thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ từ 15 - 49 tuổi tại phường Mỏ Chè, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và một số liên quan

    Trương Thị Thuỳ Dương và cộng sự2025Tạp chí Nghiên cứu Y học

    AI tóm tắt

    Phân tích dịch tễ học tại phường Mỏ Chè, thành phố Sông Công được tiến hành qua nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 330 phụ nữ độ tuổi 15–49. Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn chung là 10,9%, gồm 8,5% thể nhẹ và 2,4% thể vừa. Thu nhập dưới 5 triệu đồng mỗi tháng (OR = 2,02) cùng thực hành dinh dưỡng kém (OR = 1,81) làm tăng đáng kể nguy cơ mắc, cung cấp căn cứ thực tiễn cho can thiệp dinh dưỡng tại cộng đồng đô thị.

  • Social identity as a driver of adult chronic energy deficiency: analysis of rural Indian households

    Ruchira Bhattacharya2020

    AI tóm tắt

    Khai thác dữ liệu Khảo sát Phát triển Con người Ấn Độ trên 63.323 người trưởng thành giai đoạn 2005–2011, phân tích theo dõi dọc đã làm rõ tác động của giai tầng xã hội đối với thể lực. Dù 85,7% nam giới và 44,7% nữ giới đã thoát khỏi chronic energy deficiency, nhóm phụ nữ Dalit đạt mức cải thiện thấp nhất là 41,9%. Khoảng cách dinh dưỡng rõ rệt giữa các giai tầng nhấn mạnh yêu cầu ưu tiên nguồn lực hỗ trợ cho các nhóm cộng đồng yếm thế.

  • Chronic energy deficiency and associated factors among adults living with HIV in Gondar University Referral Hospital northwest Ethiopia

    Melkitu Fentie và cộng sự2017

    AI tóm tắt

    Khảo sát tại Bệnh viện Gondar ở Ethiopia trên 317 người trưởng thành nhiễm HIV được thực hiện qua thiết kế cắt ngang bệnh viện. Tỷ lệ hiện mắc chronic energy deficiency đạt 18,3%, với các thể nhẹ, vừa và nặng lần lượt là 11,4%, 3,5% và 3,5%. Phân tích đa biến chỉ ra giai đoạn lâm sàng WHO tiến triển (AOR = 3,84) cùng tiền sử tiêu chảy (AOR = 4,43) làm tăng nguy cơ suy mòn, đặt ra yêu cầu tích hợp chăm sóc dinh dưỡng với điều trị kháng virus.

  • Magnitude of chronic energy deficiency and its associated factors among women of reproductive age in the Kunama population, Tigray, Ethiopia, in 2014

    Saba Abraham và cộng sự2015

    AI tóm tắt

    Thực hiện trên 284 phụ nữ dân tộc Kunama tại Tigray, Ethiopia, nghiên cứu cắt ngang cộng đồng đã lượng giá tỷ lệ suy kiệt thể lực và các nguy cơ liên quan. Tỷ lệ hiện mắc chronic energy deficiency lên tới 47,9%, trong đó thể nặng chiếm 6,3% và thể vừa chiếm 10,6%. Mất an ninh lương thực (AOR = 2,15) cùng thời gian gánh nước kéo dài (AOR = 2,31) là các yếu tố dự báo chính, khuyến nghị mở rộng can thiệp dinh dưỡng định kỳ cho phụ nữ bản địa.

Nổi bật tại Việt Nam

Mới nhất tại Việt Nam

Tài liệu tham khảo

  1. James, W. P. T., Ferro-Luzzi, A., & Waterlow, J. C. (1988). Definition of chronic energy deficiency in adults: report of a Working Party of the International Dietary Energy Consultative Group. European Journal of Clinical Nutrition, 42(12), 969-981. DOI: 10.1038/ejcn.1988.1