Thời gian cấp đông là gì? Các công bố khoa học về Thời gian cấp đông

Thời gian cấp đông là khoảng thời gian mà một chất lỏng hoặc chất rắn chuyển từ trạng thái lỏng hoặc kết hợp thành trạng thái rắn do giảm nhiệt độ. Trong quá trình cấp đông, các phân tử trong chất lỏng tương tác với nhau và sắp xếp thành một cấu trúc đặc biệt, dẫn đến tạo thành một hợp chất rắn. Thời gian cấp đông phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, áp suất và các yếu tố khác.
Thời gian cấp đông của một chất lỏng hoặc chất rắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ và thành phần hóa học của chất đó. Khi nhiệt độ giảm xuống dưới nhiệt độ đông, liên kết giữa các phân tử trong chất rắn trở nên cứng hơn, làm cho chất trở thành rắn.

Tuy nhiên, trong quá trình cấp đông, không phải tất cả các chất lỏng đều chuyển thành chất rắn cùng một lúc. Thay vào đó, chất lỏng thường trải qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình cấp đông. Giai đoạn đầu tiên được gọi là "nhiệt độ chuyển đổi thủy tinh" (glass transition temperature) khi chất lỏng bắt đầu có những biến đổi trong cấu trúc phân tử mà không thể coi là chất rắn hoàn toàn.

Sau giai đoạn này, chất lỏng tiếp tục chuyển thành chất rắn thông qua quá trình xếp chồng lớp phân tử. Thời gian cấp đông trong giai đoạn này phụ thuộc vào tốc độ xếp chồng lớp phân tử.

Thành phần hóa học của chất cũng ảnh hưởng đến thời gian cấp đông. Chẳng hạn, một số chất lỏng có thành phần phức tạp hơn, có thể có các phân tử dẫn xuất hoặc tạo thành mạng lưới polymer, điều này có thể làm gia tăng thời gian cấp đông.

Tóm lại, thời gian cấp đông của một chất lỏng hoặc chất rắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, thành phần hóa học và cấu trúc phân tử của chất. Việc hiểu và điều chỉnh thời gian cấp đông là một yếu tố quan trọng trong nhiều lĩnh vực, từ công nghiệp thực phẩm đến công nghiệp hóa chất.
Ok, dưới đây là chi tiết hơn về quá trình cấp đông và yếu tố ảnh hưởng đến thời gian cấp đông:

1. Quá trình cấp đông:
- Khi nhiệt độ của một chất lỏng giảm xuống dưới nhiệt độ đông, các phân tử bắt đầu di chuyển chậm lại và tương tác với nhau.
- Các phân tử sắp xếp theo một mạng lưới hoặc cấu trúc nhất định dẫn đến hình thành một cấu trạng rắn.

2. Thời gian cấp đông:
- Thời gian cấp đông phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ môi trường, đặc tính của chất và áp suất.
- Khi nhiệt độ giảm, tốc độ di chuyển của các phân tử giảm, làm tăng khả năng tương tác và tạo thành cấu trạng rắn. Việc này tốn thời gian và làm giảm tốc độ cấp đông.
- Áp suất cũng có thể ảnh hưởng đến thời gian cấp đông. Áp suất cao có thể tạo ra các điều kiện để tạo thành cấu trạng rắn nhanh hơn, làm giảm thời gian cấp đông.

3. Thành phần hóa học:
- Cấu trúc và thành phần hóa học của chất lỏng cũng ảnh hưởng đến thời gian cấp đông.
- Chất lỏng có thành phần đơn giản và cấu trúc đơn giản có thể nhanh chóng chuyển sang trạng thái rắn.
- Ngược lại, chất lỏng có thành phần phức tạp hơn hoặc chứa các phân tử dẫn xuất có thể làm tăng thời gian cấp đông. Ví dụ, các chất polymer thường cần thời gian lâu hơn để cấp đông do khối lượng lớn của các phân tử polymer và tương tác complex hóa học giữa chúng.

Tóm lại, thời gian cấp đông là khoảng thời gian mà chất lỏng hoặc chất rắn chuyển từ trạng thái lỏng thành trạng thái rắn. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, áp suất và cấu trúc phân tử của chất. Hiểu rõ về thời gian cấp đông là quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp và tiến trình sản xuất.

Danh sách công bố khoa học về chủ đề "thời gian cấp đông":

Heritable components of the human fecal microbiome are associated with visceral fat
GENOME BIOLOGY - Tập 17 - Trang 1-19 - 2016
Michelle Beaumont, Julia K. Goodrich, Matthew A. Jackson, Idil Yet, Emily R. Davenport, Sara Vieira-Silva, Justine Debelius, Tess Pallister, Massimo Mangino, Jeroen Raes, Rob Knight, Andrew G. Clark, Ruth E. Ley, Tim D. Spector, Jordana T. Bell
Variation in the human fecal microbiota has previously been associated with body mass index (BMI). Although obesity is a global health burden, the accumulation of abdominal visceral fat is the specific cardio-metabolic disease risk factor. Here, we explore links between the fecal microbiota and abdominal adiposity using body composition as measured by dual-energy X-ray absorptiometry in a large sample of twins from the TwinsUK cohort, comparing fecal 16S rRNA diversity profiles with six adiposity measures. We profile six adiposity measures in 3666 twins and estimate their heritability, finding novel evidence for strong genetic effects underlying visceral fat and android/gynoid ratio. We confirm the association of lower diversity of the fecal microbiome with obesity and adiposity measures, and then compare the association between fecal microbial composition and the adiposity phenotypes in a discovery subsample of twins. We identify associations between the relative abundances of fecal microbial operational taxonomic units (OTUs) and abdominal adiposity measures. Most of these results involve visceral fat associations, with the strongest associations between visceral fat and Oscillospira members. Using BMI as a surrogate phenotype, we pursue replication in independent samples from three population-based cohorts including American Gut, Flemish Gut Flora Project and the extended TwinsUK cohort. Meta-analyses across the replication samples indicate that 8 OTUs replicate at a stringent threshold across all cohorts, while 49 OTUs achieve nominal significance in at least one replication sample. Heritability analysis of the adiposity-associated microbial OTUs prompted us to assess host genetic-microbe interactions at obesity-associated human candidate loci. We observe significant associations of adiposity-OTU abundances with host genetic variants in the FHIT, TDRG1 and ELAVL4 genes, suggesting a potential role for host genes to mediate the link between the fecal microbiome and obesity. Our results provide novel insights into the role of the fecal microbiota in cardio-metabolic disease with clear potential for prevention and novel therapies.
Der Nachweis von Barium in Menschenknochen
Deutsche Zeitschrift für die gesamte gerichtliche Medizin - Tập 19 - Trang 265-278 - 2016
S. Kunowski
Critical evaluation of mathematical models for the amplification of chirality
Origins of life and evolution of the biosphere - Tập 11 - Trang 143-162 - 1981
Cs. Fajszi, J. Czégé
The main types of models related to the origin of biological asymmetry are reviewed and new models are proposed. It is shown that in polymerization (in contrast to Yamagata's hypothesis) only a temporary amplification of asymmetry occurs. Models have been constructed in which always the same enantiomer survives, independently of any fluctuations or asymmetric initial conditions. Therefore, the question of the “by chance” or the causal origin of biological asymmetry remains still open, although with a slight preference for a causal origin.
The Myth of Responsibility: on Changing the Purpose Paradigm
Humanistic Management Journal - Tập 4 - Trang 5-32 - 2018
Friedrich Glauner
As part of our exploration of a new conceptual framework for an economy that works for 100% of humanity, this conceptual paper asks why all talk about the purpose of organizations seems to suffer from a certain bias, namely the bias of scarcity, and how this myth of scarcity influences our understanding of corporate responsibility. The mainstream understanding of corporate purpose always contains partly normative and partly functional aspects designed to cope with the purported problem of scarcity. According to economic and CSR reasoning, this bias concerning the purpose of business organizations triggers two quite distinct understandings of the essence of corporate responsibility. The economic view interprets it as responsibility towards the company, while CSR and business ethics argue that it reflects, or at least ought to reflect, a broader responsibility towards society. To overcome this responsibility gap, we need to affect a paradigm shift in economic reasoning, a shift which reconciles economic responsibility on the micro-level logic of raising profit with the greater demands of the meso, macro, and supra levels. Only then do we obtain a truly meaningful lever for changing real-world business practice from within the micro-logics of running a corporation. This paradigm shift requires a different mental model - a model of resource growth and natural abundance, rather than of scarcity - on the part of both economists and business ethicists. It can be labeled the economic model of future viability. This paper develops a conceptual argument for a future viable model of business practice which, first and foremost, takes seriously the need for the kind of micro-level decision-making which keeps individual organizations afloat, but which also, and crucially, delivers a solution for future viable business models and business behavior which breaks the apparent downward spiral of modern wealth creation, i.e. the spiral of continuous acceleration, disruption, concentration and resource exploitation, and which, thirdly, delivers a proper definition of purpose which can be applied in measurement systems which are free of biased assumptions of scarcity.
Subcell limiting strategies for discontinuous Galerkin spectral element methods
Computers and Fluids - Tập 247 - Trang 105627 - 2022
Andrés M. Rueda-Ramírez, Will Pazner, Gregor J. Gassner
Amine-based solvent for CO2 absorption and its impact on carbon steel corrosion: A perspective review
Chinese Journal of Chemical Engineering - Tập 28 - Trang 1357-1367 - 2020
Zhe Lun Ooi, Pui Yee Tan, Lian See Tan, Swee Pin Yeap
Differential changes of calcium binding proteins in the rat striatum after kainic acid-induced seizure
Neuroscience Letters - Tập 333 - Trang 87-90 - 2002
Jiyong Lee, Kichul Park, Sungsoo Lee, Kum Whang, Minjeong Kang, Chan Park, Youngbuhm Huh
Orientation dependency of the alpha to omega plus beta transformation in commercially pure zirconium by high-pressure torsion
Scripta Materialia - Tập 65 - Trang 241-244 - 2011
B. Srinivasarao, A.P. Zhilyaev, M.T. Pérez-Prado
Firing properties of cat basal forebrain neurones during sleep-wakefulness cycle
Electroencephalography and Clinical Neurophysiology - Tập 58 - Trang 362-368 - 1984
L. Détári, G. Juhász, T. Kukorelli
Bubo masquerading as an incarcerated inguinal hernia
Hernia - Tập 5 - Trang 97-98 - 2001
K. Hodge, R. Orgler, T. Monson, R. Read
A 44-year old, male, tattooed, leather jacket clad, Harley-Davidson motorcyclist arrived at the emergency room with a tender, irreducible mass, presenting at the external inguinal ring. In 1998, lung biopsy was read as miliary granuloma. No herniation was found on urgent preperitoneal exploration. Incision of the mass showed acid-fast bacilli. Culture later revealed Mycobacterium avium-intracellulare (MAI). A blood count showed CD4 lymphopenia; HIV was negative and remains so 2 years later.
Tổng số: 2,917,845   
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 291785