
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi
1859-4255
Việt Nam
Cơ quản chủ quản: N/A
Lĩnh vực:
Các bài báo tiêu biểu
Viện Thủy điện và Năng lượng tái tạo 10 năm xây dựng và phát triển
Số 52 - Trang 2 - 2020
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Viện Thủy điện và năng lượng tái tạo là đơn vị thành viên trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam được thành lập theo quy định tại Điều 2, Quyết định số 594/QĐ-TTg ngày 10/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam và Quyết định số: 2164/2008/QĐ-BNN/TCCB ngày 17 tháng 07 năm 2008 về việc qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Thủy điện và năng lượng tái tạo của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Lập định mức tiêu hao vật tư cho vận hành, bảo dưỡng cống âu thuyền Ninh Quới tỉnh Bạc Liêu
Số 77 - Trang 94 - 2023
Cống âu thuyền Ninh Quới tỉnh Bạc Liêu nằm trên đoạn kênh QLPH, cách ngã 4 Ninh Quới về phía tỉnh Sóc Trăng khoảng 750 m thuộc địa phận xã Ninh Quới, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. Khu vực dự án bao gồm phần diện tích của các huyện Hồng Dân, Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu; huyện Ngã Năm, huyện Thạnh Trị tỉnh Sóc Trăng. Các hệ thống công trình mới được đầu tư xây dựng và hiện chưa có các định mức KTKT phục vụ công tác quản lý, vận hành hệ thống công trình. Vì vậy việc nghiên cứu xây dựng định mức KTKT trong quản lý khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi là cần thiết và cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, đảm bảo an toàn và duy trình chất lượng của hệ thống, phát huy hiệu quả phục vụ của các hệ thống công trình. Một số định mức mang tính cấp thiết cho công tác quản lý vận hành hiện nay bao gồm: định mức lao động; định mức cho công tác bảo trì công trình; định mức hao phí vật tư, nguyên nhiên, vật liệu để vận hành máy móc, thiết bị công trình thủy lợi. Bài viết nghiên cứu phương pháp lập định mức tiêu hao vật tư nguyên nhiên vật liệu cho cống âu thuyền Ninh Quới tỉnh Bạc Liêu tham khảo trong công tác vận hành, bảo hành, bảo dưỡng thiết bị
#Định mức tiêu hao vật tư #cống âu thuyền #bảo dưỡng #Ninh Quới
Phân tích suất chi phí, cơ cấu chi phí và đề xuất chính sách hỗ trợ quản lý khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn vùng núi cao, khan hiếm nước khu vực Bắc Bộ
Số 77 - Trang 28 - 2023
Mục tiêu cấp nước sinh hoạt vùng núi cao, khan hiếm nước khu vực Bắc Bộ đang đặt ra thách thức to lớn do hạn chế cả về nguồn nước, hạ tầng, cơ chế chính sách lẫn thu nhập, nhận thức và địa hình. Giải pháp là áp dụng chính sách hỗ trợ chi phí vận hành, khai thác công trình cấp nước tập trung được coi là cấp thiết. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích vòng đời chi phí để đánh giá việc sử dụng chi phí đầu vào trong các mô hình tổ chức quản lý khai thác ở cả công trình động lực và tự chảy. Phân tích năm yếu tố chi phí đầu vào của mười bảy công trình cho thấy suất chi phí chung thấp, khoảng 2.620 đồng/m3, cao hơn 3,1% mức giá bình quân. Suất chi phí công trình động lực do doanh nghiệp tư nhân là 7.160 đồng/m3, ở các tổ chức khác quản lý công trình tự chảy là dưới 2.000 đồng/m3. Cơ cấu chi phí cũng đã được đề xuất trong đó chi phí lao động chiếm tỷ lệ lớn nhất, tiếp đến điện năng, bảo trì…. Các chính sách quản lý khai thác tài sản, giá nước và hỗ trợ giá đồng thời được phân tích và đề xuất gồm việc chỉ ra vai trò hỗ trợ giá của nhà nước, trách nhiệm giảm chi phí của đơn vị khai thác và trả phí để tiết kiệm nước của người dùng nước
#Khan hiếm nước #chi phí #chính sách nước sạch #công trình cấp nước #nước ngầm
Thí nghiệm mô hình vật lý thủy động lực học: Quá khứ, hiện tại và tương lai
Số Chuyên đề - Trang 19 - 2023
Thí nghiệm mô hình vật lý (MHVL) thủy động lực học đóng vai trò quan trọng trong thiết kế các công trình thủy lợi, thủy điện, cầu cảng, chỉnh trị sông, bảo vệ cửa sông, bờ biển. Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ và áp dụng rộng rãi các phương pháp số, mô hình toán đã phần nào làm giảm nhu cầu về MHVL trong một số trường hợp nhất định. Bài báo này dựa vào dữ liệu thí nghiệm MHVL đã thực hiện tại Viện KH Thủy lợi VN từ những năm 1960 để điểm lại quá trình hình thành, phát triển nghiên cứu thí nghiệm MHVL, những thách thức hiện tại và nhận định tương lai của lĩnh vực này. Các phương pháp số hiện nay vẫn chưa đủ mạnh để giải quyết toàn bộ vấn đề kỹ thuật thủy lực sông biển phức tạp. Ngược lại, mô hình vật lý cũng không thể giải quyết được nhiều vấn đề trong thế giới thực. Do đó, trong tương lai, các phòng thí nghiệm vẫn cần thiết duy trì nghiên cứu dựa vào mô hình vật lý, cùng với đó là đầu tư ứng dụng, phát triển mô hình số và phương tiện tính toán, để hỗ trợ bổ sung cho nhau cùng phát triển.
#Mô hình vật lý #phòng TNTĐ #thí nghiệm mô hình #CFD
Nghiên cứu sử dụng mô hình học máy tăng cường độ dốc vào dự đoán năng lượng pin mặt trời sử dụng công nghệ quang điện
Số 80 - Trang 49 - 2023
Nhu cầu năng lượng toàn cầu ngày càng tăng, cùng với nhu cầu về các nguồn năng lượng sạch và bền vững, đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể các dự án điện mặt trời trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tại Việt Nam, công nghệ, kỹ thuật và khả năng phát triển dự án điện mặt trời còn đang phụ thuộc rất nhiều vào nước ngoài, dẫn đến việc triển khai điện mặt trời với quy mô lớn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về giá thành. Điều này khiến điện mặt trời khó có khả năng cạnh tranh với những nguồn điện truyền thống khác. Tuy nhiên việc đánh giá, thiết kế năng lượng pin mặt trời bằng công nghệ quang điện Solar photovoltaic ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, chủ yếu do các đơn vị tư vấn nước ngoài. Sẽ hết sức có ý nghĩa nếu có thể đánh giá sơ bộ ban đầu nguồn năng lượng pin mặt trời. Việc sử dụng công cụ học máy ML trong dự báo năng lượng mặt trời đã thu hút được sự chú ý đáng kể trong những năm gần đây, với một số nghiên cứu chứng minh tiềm năng của các mô hình dựa trên ML trong việc cải thiện độ chính xác và độ tin cậy của dự báo năng lượng mặt trời. Do vậy, nghiên cứu này sẽ nghiên cứu đưa ra một ứng dụng cụ thể của một mô hình học máy hiện đại là tăng cường độ dốc (Gradient Boosting) trong việc dự báo năng lượng pin mặt trời từ nhiệt độ môi trường, lượng bức xạ nhiệt và nhiệt độ pin mặt trời
#Năng lượng pin mặt trời #công nghệ quang điện #học máy #tăng cường độ dốc #dữ liệu lớn
Cơ sở khoa học áp dụng phương pháp màng bao dữ liệu DEA trong đánh giá hiệu quả quản lý vận hành hệ thống tưới bằng động lực quy mô nhỏ
Số 71 - Trang 2 - 2022
Đánh giá hiệu quả quản lý vận hành các hệ thống tưới bằng động lực quy mô nhỏ theo cả khía cạnh kinh tế và kỹ thuật đang là vấn đề cấp thiết, làm nền tảng xây dựng kế hoạch nâng cao hiệu quả quản lý tưới trong bối cảnh chuyển đổi sang cơ chế giá. Hiện nay các phương pháp truyền thống chưa chỉ ra được nguyên nhân đi cùng với giải pháp mang tính định lượng. Nghiên cứu này đã khảo lược cơ sở khoa học, thực tiễn và đề xuất phương pháp toán phi tham số - màng bao dữ liệu DEA để ứng dụng trong đánh giá hiệu quả quản lý vận hành các hệ thống tưới bằng động lực quy mô nhỏ vùng đồng bằng sông Hồng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra cơ sở lý thuyết hình thành bài toán tối ưu và khả năng áp dụng DEA theo mô hình hiệu quả theo hướng chú trọng đầu vào với giả thiết hiệu quả không đổi theo quy mô CRS và hiệu quả thay đổi theo quy mô VRS dựa trên các yếu tố là hao phí, chi phí đầu vào và diện tích tưới lúa. Các chỉ số hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả quy mô, hiệu quả chi phí tối ưu, suất chi phí chung, suất chi phí cho từng yếu tố đầu vào và cơ cấu chi phí ở các lớp hiệu quả có thể được xác định từ DEA. Đây là nền tảng đề xuất các cơ cấu chi phí tối ưu và đề xuất giải pháp áp dụng cho các đơn vị quản lý vận hành và cơ quan quản lý nhà nước trong xây dựng chính sách.
#DEA #hiệu quả #hệ thống tưới #quản lý vận hành
XÂY DỰNG MỐI LIÊN HỆ GIỮA SỰ BIẾN ĐỔI BỀ DÀY BÃI BỒI VEN BIỂN TRÀ VINH VỚI CHẾ ĐỘ PHÙ SA SÔNG MEKONG VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG
Số 42 - Trang 78 - 2019
Bờ biển Trà Vinh (BBTV) với vị trí đặc biệt nằm ở hạ nguồn sông Mekong, nơi giao thoa với Biển Đông, nên chịu sự chi phối mạnh mẽ của sự biến động lượng bùn cát từ sông Mekong và ảnh hưởng từ sự thay đổi mực nước biển trước tác động của biến đổi khí hậu. Với giả sử về sự không thay đổi của các yếu tố tác động khác như sóng, gió, điều kiện tự nhiên, tác động của con người, ..., nghiên cứu sử dụng phần mềm Mike 21C F/M tính toán chế độ thủy thạch động lực vùng BBTV với 5 kịch bản (hiện trạng, nước biển dâng theo năm 2030, 2050 và sự suy giảm bùn cát từ sông Mekong 20% - 30%). Lựa chọn một số khu vực biến động đặc biệt của ven biển Trà Vinh, bài báo đã trích xuất kết quả tính toán và tìm ra mối liên hệ giữa sự biến đổi bề dày bãi bồi phụ thuộc vào: thời gian, sự tăng – giảm lượng phù sa sông Mekong và mực nước biển dâng.
Giải pháp thành lập liên hiệp tổ chức thủy lợi cơ sở
Số 69 - Trang 32 - 2022
Thành lập liên hiệp tổ chức thủy lợi cơ sở để nhận chuyển giao quản lý, khai thác chệ thống dẫn, chuyển nước đấu nối với hệ thống thủy lợi nội đồng đã được thực hiện thí điểm ở Việt Nam hơn 20 năm qua và đã được cụ thể hóa trong Luật Thủy lợi. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc thực thi còn nhiều vướng mắc do các quy định của pháp luật hiện hành chưa đủ chi tiết để thực hiện. Vì vậy, trên cơ sở đánh giá các quy định hiện hành và thực trạng các liên hiệp tổ chức thủy lợi cơ sở hiện có, trong khuôn khổ bài viết này các tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách, quy trình thành lập liên hiệp tổ chức thủy lợi cơ sở, góp phần thúc đẩy phát triển quản lý tưới có sự tham gia (PIM) và chuyển giao quản lý tưới (IMT) ở Việt Nam.
#Liên hiệp tổ chức thủy lợi cơ sở #quản lý tưới có sự tham gia #chuyển giao quản lý tưới
ĐẶC TRƯNG HÌNH DẠNG VÀ NỐI TIẾP CỦA DÒNG CHẢY QUA TRÀN PIANO
Số 42 - Trang 27 - 2019
Tràn piano (PKW) là hình thức công trình tháo có đường tràn dạng zic zắc, tạo nên các ô đón nước và ô thoát nước tựa phím đàn piano. Dòng chảy trên các phím nước vào và phím nước ra có đặc điểm khác nhau phụ thuộc vào cột nước tràn, làm ảnh hưởng tới khả năng tháo cũng như nối tiếp hạ lưu. Bài báo này trình bày một số đặc trưng thủy động học dòng chảy qua tràn piano bằng nghiên cứu thí nghiệm mô hình vật lý, mô hình toán 3D. Xác định trạng thái chảy đầy/ không đầy phím ra với ranh giới H0/Wo=0,5, hình thức nối tiếp hạ lưu dọc theo phím vào là nối tiếp dòng phun, dọc theo phím ra là nối tiếp dòng đáy. Lưu lượng dòng đáy chiếm 80%÷90% tổng lượng dòng chảy qua tràn.
Đề xuất khung nghiên cứu hoàn thiện thể chế, chính sách giảm thiểu rủi ro lũ quét và sạt lở đất đá
Số 61 - Trang 24 - 2020
Thiên tai ngày càng có xu hướng cực đoan, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và các hệ sinh thái trên phạm vi toàn cầu. Mặc dù vậy, nghiên cứu về thể chế, chính sách giảm nhẹ rủi ro của các thảm họa trên thế giới hiện chưa được công bố nhiều. Để góp phần hỗ trợ triển khai các nghiên cứu thuộc lĩnh vực này trong tương lai, trong bài báo, tác giả đề xuất và thảo luận về khung nghiên cứu của một đề tài trên cơ sở phân tích các kết quả nghiên cứu đã được công bố, hệ thống văn bản chính sách hiện hành và hoạt động phòng, chống thiên tai thực tế ở một số địa phương của Việt Nam. Trong đó, bộ công cụ đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp về thể chế, chính sách bao gồm hơn 70 tiêu chí liên quan đến khả năng can thiệp vào các tác nhân ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý rủi ro lũ quét và sạt lở đất đá.
Khung nghiên cứu này có thể áp dụng chung trong lĩnh vực quản lý rủi ro thiên tai. Tuy nhiên, do việc xác lập và lượng hóa giá trị cũng như đánh giá mức độ khả dụng của từng tiêu chí là khá phức tạp nên khi áp khung nghiên cứu này trong các đề tài cần tiến hành cập nhật và kiểm định bộ tiêu chí để thiết lập được công cụ phân tích thể chế, chính sách phù hợp.
#khung nghiên cứu #thể chế #chính sách #rủi ro thiên tai #lũ quét #sạt lở đất đá