Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi
Công bố khoa học tiêu biểu
* Dữ liệu chỉ mang tính chất tham khảo
Sắp xếp:
Nghiên cứu diễn biến hình thái và xây dựng tương quan giữa hình thái cửa Tiên Châu với yếu tố động lực sông
Cửa Tiên Châu là cửa ra của sông Kỳ Lộ đổ vào vịnh Xuân Đài và biển Đông, trước cửa có doi cát chắn ngang cửa sông, chạy dài từ Bắc xuống Nam đến sát chân núi Ông Ngõn. Phía trong cửa Tiên Châu có cảng cá Tiên Châu và khu neo đậu tàu thuyền. Do doi cát chắn cửa thường xuyên biến động mạnh dưới tác động của các yếu tố động lực sông và động lực biển nên do vậy cửa Tiên Châu cũng thường xuyên bị bồi lấp, gây khó khăn cho tàu cá ra vào cảng. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu diễn biến của doi cát ở cửa Tiên Châu từ các ảnh vệ tinh Landsat được thu thập từ năm 2000 đến 2022. Bài báo cũng đã xây dựng các tương quan giữa hình thái cửa sông với các yếu tố động lực sông để làm sáng tỏ các xu thế diễn biến của cửa Tiên Châu, phục vụ cho việc quy hoạch chỉnh trị, ổn định cửa sông trong tương lai
#Cửa Tiên Châu #doi cát chắn cửa #hình thái cửa sông #ảnh Landsat #động lực sông
Đánh giá khả năng tiêu thoát nước khu vực Hà Nam, thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh có xét đến tác động của biến đổi khí hậu
Khu vực Hà Nam là một đô thị ven biển có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh. Do có 70 % diện tích có cao độ địa hình thấp hơn mực nước triều cao nên việc tiêu thoát nước của khu vực Hà Nam gặp nhiều khó khăn. Trong tương lai, sự gia tăng các trận mưa cực đoan (do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu) cùng với mực nước nguồn tiếp nhận tăng lên (do ảnh hưởng của nước biển dâng) sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới ngập lụt khu vực Hà Nam. Bài báo này tập trung vào đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến mức độ ngập lụt khu vực đảo Hà Nam, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh bằng sử dụng mô hình SWMM 5.1 ứng với 3 trận mưa thiết kế khác nhau. Kết quả cho thấy mô hình thoát nước 1 chiều được hiệu chỉnh và kiểm định nên có độ tin cậy cao. Số điểm ngập sẽ tăng từ 20% đến 30%, thời gian ngập trung bình tăng từ 10% tới 30%, thể tích tràn trung bình tăng từ 40% tới 300%. Những kết quả trên là cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở khu vực Hà Nam
#Biến đổi khí hậu #Nước biển dâng #Ngập lụt #Quảng Yên
Đánh giá độ nhạy xói của lớp đất đắp thân đập của đập đất thượng Kontum
Những kết cấu thủy lực đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta như cung cấp năng lượng, cung cấp nước, điều khiển lũ lụt… Xói ngầm là một trong những nguyên nhân chính gây nên hiện tượng mất ổn định trong các công trình như đập, đê hay các hồ chứa nước bằng đất. Công trình đập đất Thượng Kon Tum với loại đập là đập đồng chất với các lăng trụ đá thượng hạ lưu. Đất đắp thân đập được đắp trực tiếp trên nền là lớp edQ hoặc IA1 sau khi bóc lớp đất thực vật. Lớp đất này là đất đất sét, á sét, hệ số thấm k = 2,8.10-8 m/s, dung trọng g = 1,77 T/m3, đất đắp thân đập có đường cong cấp phối tốt. Tuy nhiên để cho công trình được an toàn, cần nghiên cứu đánh giá tổng thể về thấm, ổn định, xói ngầm…. Bài báo này tập trung đánh giá độ nhạy xói của lớp đất đắp thân đập Thượng Kon Tum thông qua chỉ số kháng xói
#Xói ngầm #độ nhạy xói #chỉ số kháng xói #đập đất
Mô hình bộ nhớ dài - ngắn LSTM cho mô phỏng dòng chảy lưu vực sông Thu Bồn
Bài báo này trình bày các kết quả mô phỏng lưu lượng dòng chảy trên lưu vực sông Thu Bồn tính đến trạm thủy văn Nông Sơn sử dụng mô hình bộ nhớ dài – ngắn LSTM. Chuỗi số liệu mưa tại Nông Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My và lưu lượng dòng chảy tại Nông Sơn từ 1/1/1977 đến 31/12/2020 đã được thu thập để phục vụ cho các mục đích tính toán. Phương pháp thử sai đã được sử dụng để xác định giá trị phù hợp của các thông số mô hình LSTM, trong khi bốn chỉ tiêu đánh giá sai số (sai số quân phương - RMSE, sai số trung bình tuyệt đối - MAE, hệ số tương quan - r và hệ số Nash–Sutcliffe efficiency - NSE) đã được áp dụng để đánh giá sự phù hợp giữa lưu lượng dòng chảy tính toán và thực đo. Kết quả tính toán thể hiện rằng mô hình LSTM đã tái hiện khá tốt chuỗi lưu lượng dòng chảy thực đo trong thời kỳ nhiều năm trên lưu vực nghiên cứu. Hệ số tương quan r thay đổi từ 0,87 đến 0,95, trong khi hệ số NSE dao động từ 0,73 đến 0,90. Giá trị RMSE và MAE của lưu lượng dòng chảy nhỏ hơn 3,52% biên độ lưu lượng dòng chảy thực đo ghi nhận tại trạm. Trong bốn trạm mưa thu thập trên lưu vực nghiên cứu, dữ liệu mưa tại trạm Trà My cho các kết quả mô phỏng chuỗi lưu lượng dòng chảy thực đo tại Nông Sơn tốt nhất khi sử dụng mô hình LSTM, với hệ số tương quan r lớn hơn 0,94 và hệ số NSE lớn hơn 0,88. Ảnh hưởng của dữ liệu mưa và khả năng nâng cao độ chính xác kết quả mô phỏng lưu lượng dòng chảy khi sử dụng mô hình LSTM cũng được thảo luận.
#Sông Thu Bồn #Mô hình LSTM #Dòng chảy
Một số tiêu chí lựa chọn hình thức kè bảo vệ bờ kênh Cái Côn tỉnh Hậu Giang theo điều kiện phát triển hạ tầng giao thông đường bộ
Nhiều yếu tố bất lợi đến ổn định đường bờ sông khu vực đồng bằng Sông Cửu Long đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một hệ thống các tiêu chí lựa chọn hình thức bảo vệ kè hợp lý, thỏa mãn các yêu cầu về kỹ thuật và kinh tế. Nghiên cứu này đã tiến hành phân tích một số yếu tố quan trọng trong quá trình lựa chọn hình thức kè cho công trình bảo vệ bờ kênh Cái Côn, tỉnh Hậu Giang theo mức độ phát triển hạ tầng giao thông đường bộ. Bằng cách sử dụng phương pháp phân tích các tiêu chí kỹ thuật, môi trường và kinh tế, các tác giả đề xuất một khung tiêu chí giúp quyết định lựa chọn hình thức kè phù hợp với các điều kiện cụ thể của kênh Cái Côn, đóng góp vào việc cải thiện vấn đề ổn định bờ kênh và phát triển hạ tầng đô thị bền vững trong khu vực. Nghiên cứu này cũng cung cấp một ví dụ điển hình về chọn lựa hình thức kè trên sông lớn và mang đặc điểm địa chất đặc trưng tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long
#Sạt lở bờ sông #công trình bảo vệ bờ #kè bảo vệ bờ #đồng bằng Sông Cửu Long
Nghiên cứu đánh giá giải pháp cấp nước bổ sung cho sản xuất nông nghiệp của hệ thống thủy lợi sông Nhuệ
Hệ thống thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong việc cấp nước cho sản xuất nông nghiệp của các tỉnh khu vực phía Bắc. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) và các hoạt động xây dựng hồ chứa trên thượng nguồn đã dẫn đến tình trạng hạ thấp mực nước của các sông lớn trong vùng, trong đó có sông Hồng. Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá khả năng cấp nước của hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ, hệ thống lấy nước từ Sông Hồng, trong điều kiện hiện trạng và trong tương lai khi có cấp nước bổ sung từ trạm bơm Liên Mạc với công suất 70m3/s. Việc đánh giá hiện trạng cấp nước và giải pháp cấp nước bổ sung đã sử dụng mô hình MIKE 11 để mô phỏng diễn toán mực nước dọc trục chính Sông Nhuệ trong giai đoạn mùa kiệt (vụ Đông Xuân). Mô hình thủy lực hệ thống được thiết lập, kiểm định và hiệu chỉnh với độ tin cậy cao (R2>0,85 và NASH>0,78). Các kịch bản mô phỏng được đưa ra bao gồm: 1) Kịch bản (KB1) năm trung bình nước với tần suất mực nước và lưu lượng sông ngoài P=50%; 2) Kịch bản (KB2) năm ít nước với tần suất mực nước và lưu lượng sông ngoài P=85%; 3) Kịch bản (KB3) năm trung bình nước với tần suất mực nước và lưu lượng P=50% và được cấp nước bổ sung với lưu lượng Q=70m3/s; 4) Kịch bản (KB4) năm ít nước với tần suất mực nước và lưu lượng P=85% và được cấp nước bổ sung với lưu lượng Q=70m3/s. Kết quả mô phỏng cho thấy: Đối với KB1 và KB2 khi không được cấp nước bổ sung, mực nước tại các cống chính trên hệ thống không đảm bảo yêu cầu về cao trình so với quy định trong “Quy trình vận hành hệ thống Sông Nhuệ” nên không đảm bảo yêu cầu cấp nước; Trường hợp được cấp nước bổ sung với năm trung bình nước (KB3) thì mực nước đáp ứng được yêu cầu; Đối với năm ít nước khi được cấp nước bổ sung từ trạm bơm Liên Mạc thì mực nước dọc trục chính xấp xỉ so với yêu cầu, trường hợp này cần thực hiện điều tiết cống chính và tổ chức tưới luân phiên.
#Hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ #Cấp nước bổ sung #trạm bơm động lực #diễn biến mực nước
Nghiên cứu sử dụng phụ phẩm công nghiệp (Xỉ thép) thay thế cốt liệu đá dăm để sản xuất bê tông ứng dụng cho các công trình thủy lợi
Trong nghiên cứu sử dụng phụ gia khoáng là Tro bay và Xỉ lò cao hoạt tính, cốt liệu thô là đá dăm và xỉ thép để thiết kế thành phần bê tông đạt mác thiết kế từ M30 đến M40. Khi sử dụng cốt liệu xỉ thép kết hợp với phụ gia khoáng là xỉ lò cao hoạt tính thì cường độ bê tông ở tuổi 28 ngày đạt Rn28 = 47,5 MPa, mác chống thấm của bê tông thiết kế đạt từ W8 đến W12, độ mài mòn thấp, phù hợp thi công các công trình Thủy lợi.
#Tro bay #xỉ lò cao hoạt tính #xỉ thép
Đề xuất các quy định sử dụng vốn Nhà nước trong các dự án đầu tư xã hội hóa phòng chống trượt lở cho các khu tái định cư thủy điện Sơn La
Do đặc thù các khu vực xảy ra trượt lở thường là khu vực vùng sâu, vùng xa có điều kiện tự nhiên – xã hội khó khăn. Do đó rất khó hấp dẫn các nhà đầu tư xã hội hóa. Để việc xã hội hóa phòng chống trượt lở khả thi, thì cần có một số chính sách nhằm hấp dẫn các nhà đầu tư. Trong đó có việc sử dụng vốn Nhà nước để tham gia một phần dự án đầu tư xã hội hóa phòng, chống trượt lở có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, nguồn vốn này tham gia như thế nào để thuận lợi cho dự án đầu tư và hấp dẫn được các nhà đầu tư thì chưa được làm rõ. Bài báo này đề cập đến việc nghiên cứu đề xuất các quy định sử dụng vốn Nhà nước trong các dự án đầu tư phòng chống trượt lở cho các khu tái định cư thủy điện Sơn La.
#Dự án xã hội hóa phòng chống trượt lở; Nguồn vốn Nhà nước; Khu tái định cư thủy điện Sơn La
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến xâm nhập mặn vùng hạ lưu sông Đồng Nai-Sài Gòn và đề xuất giải pháp ứng phó
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng (NBD) tình trạng xâm nhập mặn (XNM) ở TPHCM diễn ra gay gắt và có xu thế ngày càng bất thường hơn, đặc biệt do ảnh hưởng của hiện tượng El-NiNo mùa mưa đến trễ nhưng kết thúc sớm với tổng lượng mưa các năm 2015, 2019 là rất thấp nên mặn xâm nhập sâu vào nội đồng gây nhiều thiệt hại cho kinh tế-xã hội (KT-XH).
Mặc dù thành phố đã xây dựng nhiều hệ thống công trình thủy lợi (CTTL) và triển khai nhiều giải pháp ứng phó với XNM tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu do việc đo đạc tính toán dự báo mặn chưa đồng bộ và còn nhiều bất cập, vì vậy trong bài báo này trình bày việc đánh giá tác động của BĐKH, NBD đối với XNM trên hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn (SĐN-SG) và đề xuất giải pháp ứng phó hiệu quả hơn những thiệt hại do XNM gây nên.
#Đồng Nai-Sài Gòn; biến đổi khí hậu; xâm nhập mặn; El-Nino
Mô phỏng diễn biến mặn trong hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải cho kịch bản lấy nước ngược từ sông Thái Bình
Nghiên cứu tập trung vào mô phỏng diễn biến độ mặn trong hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải ứng với trong trường hợp lấy nước ngược từ sông Thái Bình. Chuỗi số liệu mực nước và độ mặn thực đo tại cống Cầu Xe và An Thổ trong thời kỳ từ 18-12-2020 đến 15-1-2021 được sử dụng để đánh giá chi tiết mối tương quan giữa độ mặn và mực nước sử dụng phân tích sóng con (wavelet analysis). Độ mặn tại An Thổ có mối tương quan chặt chẽ với mực nước trong khoảng thời gian 1 giờ đối với triều kém và 0,5 giờ đối với triều cường, trong khi đó giá trị trên là khoảng 2 giờ tại vị trí cống Cầu Xe. Module lan truyền chất của mô hình MIKE 11 đã được áp dụng để mô phỏng diễn biến mặn trong hệ thống ứng với kịch bản lấy nước ngược từ sông Thái Bình qua cống Cầu Xe và An Thổ với độ mặn tương ứng trong thời kỳ nêu trên. Kết quả mô phỏng thể hiện rằng xâm nhập mặn trong hệ thống truyền sâu vào trong nội đị trên sông chính Cửu An khoảng 24,92km, trong khi đó xâm nhập mặn tính toán trên sông Đình Đào là khoảng 18,90 km. Tại vị trí ngã ba nhập lưu giữa kênh Cầu Xe và kênh An Thổ, ngã ba nhập lưu giữa sông Đình Đào và sông Cửu An, giá trị độ mặn tính toán lần lượt bằng 0,5 và 0,35 PSU. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của hệ số khuếch tán đến quá trình lan truyền mặn trong hệ thống cũng được đề cập đến trong nghiên cứu này
#Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải #Độ mặn #Diễn biến mặn #Module lan truyền chất
Tổng số: 627
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 10